KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH: CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TRUNG QUỐC

(30-11-2011)

Agroinfo xin trân tọng gửi tới quý vị độc giả Bản kiến nghị chính sách: CHÍNH SÁCH NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TRUNG QUỐC


 

 
CƠ QUAN HỢP TÁC PHÁT TRIỂN QUỐC TẾ TÂY BAN NHA
VIỆN CHÍNH SÁCH VÀ CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NN NT
Dự án “Nghiên cứu xây dựng khuyến nghị chính sách hỗ trợ phát triển của doanh nghiệp vừa và nhỏ trong lĩnh vực nông nghiệp – giai đoạn 2 và 3”
KIẾN NGHỊ CHÍNH SÁCH
CHÍNH SÁCH TÀI CHÍNH NÔNG NGHIỆP - NÔNG THÔN TRUNG QUỐC
 
 
 
Người thực hiện: Đặng Quang Vinh
 
Dòng hoạt động : 3.2.4
Đơn vị thực hiện: Trung tâm Thông tin PTNNNT
Hợp đồng số: số 37/KH-SMEs II+III/HĐ
 
 

 
 
MỤC LỤC
 
GIỚI THIỆU
 
Tháng 12/2009, tại Hội thảo “Vai trò của nông nghiệp trong khủng hoảng và tái cấu trúc nền kinh tế” do IPSARD tổ chức, các nhà nghiên cứu đã nhận định khó khăn lớn nhất của nông nghiệp – nông thôn vẫn là thiếu vốn, bởi vì, như TS Đặng Kim Sơn khẳng định: “Nông nghiệp Việt Nam chưa thể hút vốn đầu tư !”.
Vậy làm thế nào để thu hút dòng vốn chảy vào nông nghiệp nông thôn? Làm thế nào để ngân sách Nhà nước đầu tư cho khu vực này đạt hiệu quả cao nhất? Đó là băn khoăn lớn của rất nhiều nhà nghiên cứu chính sách hiện nay.
Tài liệu tham khảo “Chính sách tài chính trong nông nghiệp – nông thôn Trung Quốc” là tập hợp những kinh nghiệm đầu tư, quản lý tài chính của quốc gia có dân số nông thôn lớn nhất thế giới này.
 
Trung Quốc là một quốc gia đông dân nhất thế giới (1,331 tỷ người năm 2009[1]), với 53,4% dân số sống ở khu vực nông thôn, tương đương với 710 triệu người. Vấn đề phát triển nông nghiệp, tăng thu nhập và cải thiện đời sống người dân nông thôn ảnh hưởng to lớn đến mục tiêu xây dựng “đời sống trung lưu toàn diện” và “xã hội hài hòa” mà Trung Quốc đang theo đuổi. Chính phủ Trung Quốc luôn coi đây là một vấn đề quan trọng, có ý nghĩa chiến lược. Ở mỗi thời kỳ phát triển, Trung Quốc luôn đưa ra những chính sách quan trọng để tạo sự chuyển biến trong tiến trình phát triển nông nghiệp, nông thôn. Tiến trình cải cách chính sách phát triển nông nghiệp nông thôn đã được chính phủ Trung Quốc thực hiện trong một quá trình lâu dài.
 
Chế độ công xã nhân dân được hình thành từ năm 1958 và tồn tại đến năm 1985. Công xã nhân dân là một hình thức tổ chức đời sống và sản xuất ở nông thôn dưới hình thức tập thể. Mô hình này đã được thay thế hoàn toàn vào năm 1985 vì những khuyết điểm và hạn chế của nó. Sau đó, khu vực nông thôn thiết lập lại thể chế xã, được coi là đơn vị hành chính cơ sở nông thôn.
Các công xã nhân dân tổ chức, quản lý sản xuất và phân phối hàng hóa ở nông thôn. Sau đó mô hình này được thay thế bởi thể chế hộ gia đình, trong đó, nông dân có quyền tự chủ trong kinh doanh, trở thành chủ sở hữu và độc lập tham gia vào thị trường. Sự thay đổi này đã giải phóng mạnh mẽ sức lao động ở nông thôn.
 
 
Tháng 12 năm 2002, Luật Nông nghiệp nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa được sửa đổi. Một trong những thay đổi lớn nhất là quy định sử dụng thị trường để điều tiết kinh doanh sản phẩm nông nghiệp. Thị trường nông sản tạo ra mối liên kết giữa sản xuất và tiêu dùng. Nhu cầu của thị trường trở thành căn cứ cho việc điều chỉnh tổ chức sản xuất nông nghiệp ở nông thôn, nâng cao chất lượng nông sản và tính cạnh tranh của hàng hóa.
 
Từ những năm đầu của kế hoạch 5 năm lần thứ 10 (2000 – 2005), Trung Quốc bắt đầu chú trọng giảm gánh nặng của người dân nông thôn bằng cách giảm và xóa thuế trong nông nghiệp. Lần lượt nhiều loại phí ngoài thuế và các loại thuế trong nông nghiệp được miễn, giảm.
Năm 2004, cải cách thuế nông nghiệp đi vào chiều sâu. Nhiều loại thuế được xóa bỏ như thuế chăn nuôi, thuế đặc sản nông nghiệp (trừ thuốc lá), thuế nông nghiệp ở một số vùng. Chính phủ thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân trồng lương thực. Nông dân tại các vùng trồng lương thực trọng yếu được trợ cấp về cây giống, mua máy móc nông nghiệp cỡ lớn… 
Năm 2005, Trung Quốc có 28 tỉnh được hoàn toàn miễn thuế nông nghiệp. Đại hội đại biểu nhân dân toàn quốc khóa X (Quốc hội Trung Quốc khóa X) đã quyết định xóa bỏ hoàn toàn thuế nông nghiệp, thuế đặc sản và miễn thu thuế chăn nuôi.
Kết quả của quá trình này là năm 2006, nông dân Trung Quốc giảm chi hơn 100 tỷ Nhân Dân tệ (NDT), trung bình 120 NDT/người. Từ năm 2001 đến 2004, Trung Quốc đã miễn giảm 23,4 tỷ NDT thuế nông nghiệp; miễn 6,8 tỷ NDT thuế cây đặc sản nông nghiệp; miễn giảm thuế do thiên tai, mất mùa 16 tỷ NDT.
 
Đồng thời với việc miễn trừ thuế nông nghiệp, Trung Quốc thực hiện trợ cấp trực tiếp cho nông dân. Từ khi gia nhập WTO đến nay, Trung Quốc lần lượt đưa ra hàng loạt chính sách trợ cấp nông nghiệp, hằng năm liên tiếp tăng mức độ và phạm vi hỗ trợ tài chính.
Từ năm 2002, hai tỉnh An Huy và Cát Lâm thực hiện thí điểm việc trợ cấp với nhiều chính sách mới được ban hành như mở rộng thị trường mua bán lương thực, cho phép điều chỉnh giá thu mua lương thực theo sự điều tiết của thị trường, điều chỉnh trợ cấp Chính phủ cho nông dân.
Trung Quốc chuyển từ hình thức hỗ trợ gián tiếp cho nông dân thông qua khâu lưu thông, bán sản phẩm trên thị trường sang hình thức hỗ trợ trực tiếp cho nông dân bằng cách bù phần chênh lệch khi giá bán trên thị trường thấp hơn so với mức giá bảo hộ của nhà nước.
Trong bối cảnh sản lượng lương thực giảm liên tiếp 5 năm (2004- 2009), Chính phủ Trung Quốc có thêm nhiều chính sách hỗ trợ trực tiếp nông dân như hỗ trợ giống, cho vay mua máy móc thiết bị nông nghiệp. Đối với nông dân trồng lương thực, khi giá vật tư nông nghiệp tăng, Chính phủ Trung Quốc trợ cấp trực tiếp trên tổng chi phí tăng thêm. Kế hoạch năm 2010, Chính phủ sẽ trợ cấp cho nông dân trồng lương thực 86,7 tỷ NDT.
 
Hội nghị Trung ương Khóa 17 của Đảng Cộng sản Trung Quốc đã thông qua chiến lược “Đẩy mạnh phát triển cải cách nông thôn”: “Lấy xây dựng nông thôn mới Chủ nghĩa Xã hội làm nhiệm vụ chiến lược, lấy con đường hiện đại hóa nông nghiệp mang màu sắc Trung Quốc làm phương hướng cơ bản…”. Quyết định này nêu rõ nhiệm vụ cải cách nông thôn toàn diện sâu sắc trong thời kỳ mới, lấy hạt nhân là cải cách chế độ đất đai nông thôn, “Cung cấp cho nông dân quyền kinh doanh bao thầu đất đai có đảm bảo theo quy định của Nhà nước”. Chính phủ quy định tăng cường quản lý đất đai nông thôn, sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả. Các địa phương xây dựng quy hoạch sử dụng đất thống nhất giữa thành thị và nông thôn, giữa quy hoạch đất xây dựng hạ tầng, đô thị hóa và đất nông nghiệp…
Đối với ‘thể chế kinh doanh kết hợp hai tầng”, một mặt các hộ gia đình phải tạo sự chuyển biến trong sản xuất để nâng cao năng suất và giá trị hàng hóa, mặt khác, thị trường nông thôn cần được đa dạng hóa về hình thức hoạt động, có sự liên kết, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả.
Chương trình cải cách toàn diện nông thôn cũng xác định nhiệm vụ hoàn thiện chế độ bảo hộ, hỗ trợ nông nghiệp, nông dân. Quy mô và phạm vi hỗ trợ cho nông dân được tăng cường, đặc biệt là đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường trợ cấp cho người trồng cây lương thực.
Chính sách tài chính cho nông thôn phát triển theo hướng tăng cường phát triển tài chính có tính chất thương mại, có tính hợp tác, kết hợp giữa nhiều đối tượng tham gia. Chính phủ cho phép thành lập các tổ chức tài chính nông thôn hoạt động với mục đích sinh lời. Các chính sách này nhằm nâng cao năng lực, phát triển nguồn vốn và mở rộng thị trường tài chính nông thôn.
Những chính sách tích cực của Trung Quốc đã góp phần đưa sản xuất nông nghiệp tăng trưởng liên tục, đảm bảo an ninh lương thực quốc gia cung cấp đủ lương thực cho hơn 1,3 tỷ dân. Kinh tế nông thôn Trung Quốc phát triển nhanh, mức thu nhập của nông thôn tăng mạnh. Chất lượng cuộc sống ở nông thôn ngày càng được cải thiện rõ rệt.
Trong bối cảnh phát triển hiện nay, Chính phủ Trung Quốc tiếp tục điều chỉnh chiến lược phát triển, ban hành các chính sách mới để thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp, nông thôn.
 
Mặc dù đạt được nhiều thành tựu to lớn, nhưng Trung Quốc vẫn luôn phải đối mặt với nhiều thách thức từ nông nghiệp – nông thôn. Chính vì vậy, Trung Quốc đã đưa “tam nông” trở thành một chiến lược lớn, luôn có sự điều chỉnh trong chính sách để hướng đến sự phát triển xã hội hài hòa. Chính sách tài chính được xác định là một trong những giải pháp quan trọng để hỗ trợ và thúc đẩy sự phát triển của nông nghiệp – nông thôn – nông dân Trung Quốc.
 
Nông nghiệp là một ngành cơ bản để xây dựng đất nước Trung Quốc phát triển toàn diện, hài hòa, cung cấp nguồn lực ổn định để hoàn thành mục tiêu xây dựng thành công Chủ nghĩa Xã hội mang màu sắc Trung Quốc. Từ năm 2004 đến nay, Quốc vụ viện Trung Quốc đã ban hành 6 văn kiện quan trọng về xây dựng chiến lược phát triển tam nông theo đường lối của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Các văn kiện này đều xác định rõ: “Phát triển Tam nông hiện nay cần phải hỗ trợ tài chính cho nông thôn, cần có một thể chế chính sách tài chính đầu tư vào nông nghiệp – nông thôn đủ mạnh”.
Sở dĩ cần chú trọng về chính sách tài chính cho tam nông là vì mặc dù vai trò của nông nghiệp, nông thôn hết sức quan trọng, nhưng trong một thời gian dài chưa được đầu tư chưa đúng mức, chưa tạo thành động lực cho nông thôn phát triển. Cơ sở hạ tầng nông thôn còn yếu kém, nông dân còn thiếu cơ hội để phát triển kinh tế, nâng cao thu nhập và mức sống.
Trung Quốc cần có một chính sách tài chính hợp lý để cung cấp đủ nguồn lực hỗ trợ cho khu vực nông thôn phát triển. Chính sách tài chính cần đóng vai trò phân bổ hợp lý các nguồn lực tại khu vực nông thôn, trong đó đặc biệt chú trọng phát triển các dự án có triển vọng tốt. Sự phân bổ lại nguồn lực này sẽ điều chỉnh cơ cấu của ngành nông nghiệp hợp lý hơn.
Thực hiện tốt các chính sách tài chính cho nông thôn để góp phần nâng cao hiệu quả chính sách quốc gia về chiến lược phát triển tam nông . Đặc biệt, sau khủng hoảng kinh tế, đầu tư tài chính vào nông nghiệp – nông thôn cần được tăng cường để tạo động lực vực dậy khu vực này.
 
Chính sách tài chính hỗ trợ tam nông của Trung Quốc được thực hiện trên một phạm vi lãnh thổ nông thôn rộng lớn, với những điều kiện thực tế, vì vậy Chính phủ Trung Quốc đưa ra nhiều loại chính sách khác nhau.
 
Để thúc đẩy phát triển sản xuất, Trung Quốc thực hiện đầu tư tài chính trực tiếp để tăng sản lượng nông nghiệp, hướng đến hai mục tiêu chính: tăng động lực sản xuất của nông dân; nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp và chính sách cứu trợ, phòng chống thiên tai.
-         Chính sách tăng động lực sản xuất của nông dân được thực hiện thông qua các hình thức hỗ trợ sản xuất nông nghiệp, chính sách khen thưởng
Chính phủ Trung Quốc chi ngân sách quốc gia để hỗ trợ trực tiếp cho nông dân về giống cây trồng, vật nuôi, lương thực, mua sắm thiết bị, máy móc nông nghiệp, các chi phí đầu vào khác.
Về chính sách khen thưởng, Nhà nước thực hiện thưởng cho các huyện đạt sản lượng và năng suất cao trong sản xuất nông nghiệp hằng năm (đạt kết quả bao nhiêu thì sẽ được mức thưởng tương ứng).
-         Chính sách nâng cao năng lực sản xuất nông nghiệp.
          Trung Quốc tiến hành đầu tư tài chính cho nông thôn để phát triển sản xuất nông nghiệp tổng thể trên quy mô lớn. Nguồn vốn chính được tập trung để xây dựng các công trình thuỷ lợi, hạ tầng giao thông nông thôn… phục vụ sản xuất nông nghiệp.
Nguồn lực tài chính cũng được tập trung để đầu tư phát triển khoa học công nghệ trong lĩnh vực nông nghiệp. Một mặt, nhà nước hỗ trợ nông dân tiền vốn để mua sắm các máy móc nông nghiệp lớn, phục vụ hiện đại hoá sản xuất. Mặt khác, nguồn ngân sách được dùng đầu tư, khuyến khích sự sáng tạo của nông dân trong việc phát minh và cải tiến các loại máy móc. Đầu tư tài chính cho khoa học công nghệ để thúc đẩy phát triển sản xuất nông nghiệp là một chính sách lớn của Trung Quốc nhằm đẩy nhanh quá trình phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại.
Bảng 1:Tình hình đầu tư phát triển nông nghiệp toàn Trung Quốc giai đoạn 2003-2008 ( Vạn NDT)

Năm
Tổng đầu tư
Ngân sách Trung ương
Ngân sách địa phương
Tỷ trọng ngân sách nhà nước/tổng đầu tư (%)
Tỷ lệ tăng (%)
2003
2379916.78
867132.39
625027.81
36.44
13.81
2004
2566991.19
856504.12
582983.51
33.37
-1.23
2005
3067780.62
1018301.48
627123.01
33.19
18.90
2006
3367432.48
1099003.45
741514.99
32.64
7.93
2007
3633491.63
1210595.51
798649.09
33.32
10.15
2008
3925882.55
1324435.30
905516.74
33.74
9.40

(Nguồn: Niên giám Tài chính Trung Quốc 2009)
-         Cứu trợ và phòng chống thiên tai
Những năm gần đây, Trung Quốc hứng chịu nhiều thiên tai, trong đó khu vực nông nghiệp và nông thôn hứng chịu thiệt hại lớn nhất. Vì vậy, Chính phủ Trung Quốc dành riêng một nguồn ngân sách để cứu trợ và phòng chống thiên tai, giúp người dân nông thôn ổn định cuộc sống và phục hồi sản xuất.
Nguồn ngân sách này được dùng để cứu trợ trực tiếp cho nông dân tính trên thiệt hại trong chăn nuôi và trồng trọt. Đồng thời, Nhà nước cũng hỗ trợ ngân sách giúp nông dân tiếp tục đầu tư sản xuất.
Bên cạnh việc cứu trợ, hỗ trợ trong các trường hợp khẩn cấp, Chính phủ Trung Quốc đang tích cực xây dựng cơ chế phòng chống rủi ro, phòng chống thiên tai để giúp người dân nông thôn chủ động đối phó và giảm nhẹ thiệt hại.
Bảng 2:Ngân sách chống thiên tai 2005- 2009 (Triệu NDT)

Năm