Kết nối nghiên cứu với thực tiễn
cho một nền NÔNG NGHIỆP tăng trưởng toàn diện
Xuất khẩu chè sang các thị trường chủ đạo tăng trưởng tốt
28 | 05 | 2019
4 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu chè đạt 36.044 tấn, trị giá 62,61 triệu USD, tăng 3,1% về lượng và tăng 14,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018.

Theo số liệu thống kê từ Tổng cục Hải quan, xuất khẩu chè của Việt Nam trong tháng 4/2019 đạt 9.376 tấn, tương đương 15,94 triệu USD, tăng 1,1% về lượng, nhưng giảm 4,3% về trị giá so với tháng 3/2019; nhưng so với cùng tháng năm 2018 thì giảm 1,8% về lượng nhưng tăng 3,3% về kim ngạch.

Tính chung 4 tháng đầu năm 2019, xuất khẩu chè đạt 36.044 tấn, trị giá 62,61 triệu USD, tăng 3,1% về lượng và tăng 14,4% về kim ngạch so với cùng kỳ năm 2018. Giá xuất khẩu chè trung bình 4 tháng đầu năm là 1.737 USD/tấn, tăng 11%. Riêng tháng 4 đạt 1.700 USD/tấn, giảm 5,3% so với tháng 3/2019 nhưng tăng 5,2% so với tháng 4/2018.

Trong 4 tháng đầu năm, chè xuất khẩu sang thị trường Pakistan nhiều nhất và cũng tăng mạnh về lượng và trị giá so với cùng kì năm 2018, tăng 58,5% về lượng và tăng 44% về kim ngạch, đạt 10.639 tấn, tương đương 20,87 triệu USD; chiếm 29,5% trong tổng lượng và chiếm 33,3% trong tổng kim ngạch xuất khẩu chè của cả nước. Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng chè sang thị trường Pakistan đạt 1.962 USD/tấn, giảm 9,2%.

Theo sau là thị trường Đài Loan đạt 4.822 tấn, trị giá 7,31 triệu USD, tăng 10% về lượng và 14,3% về trị giá. Giá xuất khẩu bình quân mặt hàng chè sang thị trường Đài Loan đạt 1.515 USD/tấn, tăng 4% sới cùng kỳ.

Mặc dù lượng chè xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc giảm mạnh trong 4 tháng đầu năm, nhưng kim ngạch xuất khẩu bình quân mặt hàng chè sang thị trường này tăng mạnh. Cụ thể, xuất sang Trung Quốc 2.001 tấn, giảm 26,5% nhưng kim ngạch đạt 7,04 triệu USD, tăng 94%. Giá xuất khẩu cũng tăng rất mạnh 164%, đạt 3.518 USD/tấn.

Xuất khẩu chè sang thị trường Nga giảm 12,9% về lượng và giảm 11,5% về kim ngạch nhưng giá tăng 1,5%. Cụ thể, xuất sang Nga 4.517 tấn, tương đương 7,08 triệu USD, giá 1.567,3 USD/tấn.

Nhìn chung xuất khẩu chè 4 tháng đầu năm nay sang đa số các thị trường bị sụt giảm kim ngạch so với 4 tháng đầu năm trước, nhưng xuất sang các thị trường chủ đạo vẫn tăng trưởng tốt; trong số các thị trường sụt giảm thì xuất sang các nước EU giảm mạnh nhất như: sang Đức giảm 88,5% về lượng và giảm 83,5% về kim ngạch, đạt 21 tấn, tương đương 0,13 triệu USD; sang Ba Lan giảm 28,5% về lượng và giảm 37,6% về kim ngạch, đạt 318 tấn, tương đương 0,43 triệu USD.

Xuất khẩu chè 4 tháng đầu năm 2019

ĐVT: USD    

Thị trường

4T/2019

+/- so với cùng kỳ (%)*

Lượng (tấn)

Trị giá (USD)

Lượng

Trị giá

Tổng cộng

36.044

62.612.560

3,08

14,4

Pakistan

10.639

20.872.413

58,53

44,03

Đài Loan (TQ)

4.822

7.306.724

9,97

14,3

Nga

4.517

7.079.655

-12,87

-11,53

Trung Quốc đại lục

2.001

7.039.662

-26,51

94,18

Indonesia

3.059

2.819.300

-8,82

-15,16

Iraq

1.829

2.763.603

 

 

Mỹ

1.540

1.965.767

-33,73

-24,77

Saudi Arabia

731

1.882.594

-0,95

-4,12

Malaysia

1.367

1.071.266

-2,84

-6,74

Philippines

301

778.960

32,02

30,62

Ukraine

464

768.631

9,18

5,93

U.A.E

266

474.598

-61,78

-51,17

Ba Lan

318

431.779

-28,54

-37,55

Ấn Độ

238

361.557

-15,3

38,38

Thổ Nhĩ Kỳ

81

156.061

-50

-52,95

Đức

21

126.875

-88,52

-83,54

(*Tính toán từ số liệu của TCHQ)



Báo cáo phân tích thị trường
  • Phân bón
  • Thủy sản
  • Cao su
  • Sắn
  • Điều
  • Sữa
  • Gỗ
  • Thịt & thực phẩm
  • Hồ tiêu
  • Thức ăn CN
  • Lúa gạo
  • Thuốc trừ sâu
  • Mía đường
  • Thương mại
  • Cà phê
  • Nông thôn
  • Nông nghiệp
Đặt mua báo cáo
012.88.256.256




Chọn báo cáo
Huỷ