Nguồn: thanhnien.vn
Tác động đến hàng dệt may, đồ gỗ…
Chia sẻ về mức thuế mới 12,5% theo Mục 301 mà Mỹ vừa công bố cho hàng hóa nhiều nước, trong đó có VN, ông Trần Như Tùng, Chủ tịch HĐQT Công ty CP Dệt may Thành Công, nói rằng so với trước đây, mức thuế này tương ứng tăng thêm 2,5% (mức thuế tạm thời theo Điều 122 Mỹ áp dụng đối với nhiều nước, trong đó có VN, là 10% vừa hết hiệu lực). Sau khi cộng thêm thuế mới thì tổng cộng thuế xuất khẩu (XK) hàng dệt may VN vào Mỹ tăng lên từ 27 - 29% tùy sản phẩm. Mức thuế này cũng nằm trong dự báo của các doanh nghiệp (DN). Theo ông Tùng, nếu chỉ xét riêng về thuế XK sang Mỹ thì cũng chưa tác động mạnh với cả ngành. Hơn nữa, mức thuế này cũng được áp chung đối với nhiều nước nên có thể xem là ngang bằng nhau. Ngay cả đối với một số quốc gia vốn cạnh tranh với ngành dệt may VN như Bangladesh, Campuchia, Indonesia… bị áp thuế suất 10% thì cũng không phải là chênh lệch lớn. Tuy nhiên DN cũng phải chịu áp lực giảm lợi nhuận bởi thường sẽ bị đối tác yêu cầu chia sẻ khoản chi phí tăng thêm.
Trước mắt DN cần linh hoạt cơ cấu sản phẩm, giảm phụ thuộc vào những phân khúc chịu mức thuế cao và tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm giá trị gia tăng hoặc những sản phẩm có mức thuế thuận lợi hơn.
Đây cũng là lo ngại của lãnh đạo một DN gỗ tại Bình Dương vì mức thuế 12,5% trở thành một khoản chi phí bổ sung khi hàng vào thị trường Mỹ. Tác động đầu tiên là giá hàng VN tại Mỹ sẽ tăng, nếu toàn bộ thuế được chuyển sang nhà nhập khẩu hoặc người mua. Nhưng nhà nhập khẩu Mỹ có thể yêu cầu DN VN chia sẻ một phần chi phí thông qua giảm giá XK. Khi đó, biên lợi nhuận của DN VN sẽ bị giảm. Ví dụ, một lô hàng có trị giá tính thuế 100.000 USD, thì riêng khoản thuế bổ sung tương ứng là 12.500 USD, trước khi xét các loại thuế và chi phí khác. "DN Việt về cơ bản không phải chịu thuế nhưng nhà nhập khẩu sẽ tìm cách ép để giảm giá. Vì vậy, DN có biên lợi nhuận thấp hoặc phụ thuộc lớn vào một số khách hàng Mỹ sẽ chịu áp lực nặng hơn. Tuy nhiên, không phải toàn bộ sản phẩm gỗ đều chịu thêm mức thuế 12,5% mà có những sản phẩm được loại trừ. Những DN sản xuất các sản phẩm này thì sẽ không bị tác động bởi chính sách thuế mới của Mỹ", vị này nói rõ.
Ông Ngô Sỹ Hoài, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội Gỗ và lâm sản VN, cũng đồng tình tác động của chính sách thuế từ Mỹ là làm suy giảm lợi thế giá của sản phẩm VN. Với những sản phẩm phải chịu thêm mức thuế 12,5%, lợi thế về chi phí sản xuất của VN bị thu hẹp.
Nguy cơ thứ hai là khách hàng Mỹ gây áp lực giảm giá. Nhà nhập khẩu có thể không chấp nhận gánh toàn bộ thuế mà yêu cầu nhà cung cấp chia sẻ. Khi đó, doanh thu có thể vẫn giữ được nhưng lợi nhuận giảm.
Nguy cơ thứ ba là dịch chuyển đơn hàng. Nếu một nguồn cung khác có tổng chi phí sau thuế thấp hơn VN, nhà nhập khẩu Mỹ có động cơ chuyển một phần đơn hàng sang nguồn đó. Vì vậy cần đặc biệt theo dõi mức thuế của các quốc gia cạnh tranh.
Nguy cơ thứ tư là vấn đề lao động cưỡng bức trở thành yêu cầu tuân thủ lâu dài. Theo thông báo, Mỹ đang gây sức ép để VN hoàn thiện khung pháp lý và tăng cường thực thi việc kiểm soát hàng hóa có liên quan đến lao động cưỡng bức. Vì vậy các DN có thể phải quan tâm sâu hơn tới khả năng truy xuất nguồn gốc, nhà cung cấp nguyên liệu và chuỗi cung ứng, thay vì chỉ chứng minh nguồn gốc gỗ hợp pháp.
TS Nguyễn Tú Anh, Giám đốc Nghiên cứu chính sách Trường ĐH VinUni, cảnh báo: Ngoài mức thuế 12,5% và thuế MFN (thuế tối huệ quốc) cơ bản, hàng VN vẫn phải gánh các loại thuế hiện hữu khác. Với một số mặt hàng có thuế MFN 16,5% - như quần áo may sẵn sẽ chịu tổng cộng 29%, trong khi cùng mặt hàng đó từ Nhật Bản và EU chỉ bị chặn ở thuế suất 16,5%. Rất may các nền kinh tế này không phải là đối thủ trực tiếp của VN trên thị trường quốc tế. Còn so với các đối thủ cạnh tranh trực tiếp trong khu vực, VN ở vào thế bất lợi. Indonesia, Malaysia, Ấn Độ và Pakistan đều chỉ chịu thuế 10%. Song song đó, Indonesia và Malaysia còn được thêm ưu đãi hạn ngạch thuế quan cho dệt may và bông. Trong khi đó, các mặt hàng thép, nhôm, ô tô và linh kiện, đồng được loại khỏi mức thuế 12,5%, nhưng thay vào đó phải chịu thuế 232 (theo Mục 232, nhằm bảo vệ sản xuất nội địa của Mỹ) cao hơn nhiều, dao động từ 25 - 50%. Các sản phẩm đang bị áp thuế chống bán phá giá và chống trợ cấp (một số loại thép, đồ gỗ, pin mặt trời...) cũng tiếp tục chịu các khoản này.
Tuy vậy, TS Nguyễn Tú Anh nhấn mạnh: Đợt thuế này lại củng cố vị thế tương đối của VN so với đối thủ lớn nhất. Trung Quốc cũng nằm trong nhóm 60 nền kinh tế chịu mức thuế 12,5%, nhưng chồng lên nền thuế vốn đã rất cao: hàng may mặc Trung Quốc hiện gánh mức thuế khoảng 34% (một số loại thuế và phụ thu). Cộng thêm mức 12,5% mới, mức thuế hàng dệt may Trung Quốc vào Mỹ có thể lên tới 37 - 40%, so với khoảng 29% của VN. Khoảng cách 8 - 10 điểm phần trăm mà VN vẫn giữ được so với Trung Quốc là rất đáng kể.
Giảm chi phí, gia tăng năng lực sản xuất
Trao đổi với PV Thanh Niên, nhiều đơn vị cho biết trước mắt họ đều hợp tác với các nhà mua hàng từ phía Mỹ để quan sát, xem xét biến động thị trường; đồng thời sẵn sàng đàm phán để chia sẻ phần chi phí tăng thêm do chính sách thuế mới của Mỹ. Ông Trần Như Tùng cho rằng việc hợp tác và đàm phán chia sẻ chi phí thông thường mỗi bên sẽ chịu 50% mức thuế mới. Còn đối với giải pháp dài hạn, mỗi DN luôn tìm mọi cách giảm chi phí bằng nhiều cách, như ứng dụng công nghệ trong sản xuất, từ đó sẽ giúp DN duy trì đơn hàng, lợi nhuận.
Ông Ngô Sỹ Hoài nhận định: Do nhiều quốc gia cạnh tranh cùng chịu biện pháp tương tự, nên "cuộc chơi" sẽ là sự cạnh tranh về năng lực sản xuất, chất lượng, thiết kế, thời gian giao hàng, độ ổn định của chuỗi cung ứng và khả năng tuân thủ, thay vì đơn thuần cạnh tranh bằng mức thuế. Điều đó tạo cơ hội cho những DN VN có năng lực sản xuất tốt và quản trị chuỗi cung ứng minh bạch. DN có cơ cấu sản phẩm đa dạng có thể đánh giá lại nhóm hàng, thị trường và chiến lược sản xuất dựa trên tổng mức thuế thực tế của từng sản phẩm.
"Việc đầu tiên cần làm là rà soát từng mã hàng hóa, xác định sản phẩm nào chịu thuế theo Mục 301, sản phẩm nào có khả năng thuộc các ngoại lệ khác... Tiếp theo, DN cần tính lại giá thành theo từng sản phẩm và từng khách hàng; nếu chịu thêm thuế 12,5% thì nhà nhập khẩu chịu bao nhiêu, DN chịu bao nhiêu và biên lợi nhuận còn lại thế nào. Sau đó phải so sánh với các quốc gia cạnh tranh. Đây mới là yếu tố quyết định VN có thực sự mất lợi thế hay không. Song song đó, DN cần tăng khả năng chứng minh chuỗi cung ứng và nguồn nguyên liệu, đặc biệt đối với các vấn đề liên quan tới lao động cưỡng bức", ông Ngô Sỹ Hoài chia sẻ.
Bà Lê Hằng, Phó tổng thư ký Hiệp hội Chế biến và xuất khẩu thủy sản VN (VASEP), thông tin qua rà soát, các mặt hàng thủy sản thực phẩm XK chủ lực của VN như tôm, cá tra, cá ngừ, mực, bạch tuộc, cua ghẹ và các sản phẩm chế biến từ những loài này sẽ chịu thêm mức thuế 12,5% khi nhập khẩu vào Mỹ, bên cạnh thuế MFN và các nghĩa vụ thuế khác áp dụng cho từng mã HS (mã sản phẩm phân loại hàng hóa xuất nhập khẩu trên toàn cầu). Dù vậy, bà Hằng đánh giá đây cũng không phải là "cú sốc" như dự báo trước đó, bởi nhiều đối thủ cạnh tranh của VN như Thái Lan, Trung Quốc, Na Uy, Chile hay Peru cũng nằm trong nhóm chịu mức thuế 12,5%. Điều này phần nào hạn chế nguy cơ một quốc gia được hưởng lợi tuyệt đối.
Theo Phó tổng thư ký VASEP, trước mắt DN cần linh hoạt cơ cấu sản phẩm, giảm phụ thuộc vào những phân khúc chịu mức thuế cao và tăng tỷ trọng các sản phẩm chế biến sâu, sản phẩm giá trị gia tăng hoặc những sản phẩm có mức thuế thuận lợi hơn. Vì vậy, điều quan trọng là phải xác định chính xác từng sản phẩm thuộc mã HS nào và phạm vi áp dụng của từng loại thuế. Nói cách khác, việc đa dạng hóa sản phẩm và chuyển sang những phân khúc ít chịu tác động thuế hơn có thể giúp DN thủy sản VN duy trì khả năng cạnh tranh tại thị trường Mỹ. Bên cạnh việc chuyển đổi và khai thác thêm các thị trường, các DN sẽ phối hợp cùng với nhà nhập khẩu Mỹ kiến nghị và kêu gọi giảm thuế, tránh gây tác động đến người tiêu dùng.