Kết nối nghiên cứu với thực tiễn
cho một nền NÔNG NGHIỆP tăng trưởng toàn diện
Bài toán thu hút các nguồn lực vào khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch
22 | 08 | 2011
Nâng cao giá trị sản phẩm và tính cạnh tranh cũng như chuyên nghiệp hóa là mục tiêu mà thị trường nông sản Việt Nam đang hướng tới. Tuy nhiên, trên thực tế hiện nay do nhiều nguyên nhân khác nhau, chủ đề này vẫn đang được nhắc đến như ước mơ của những người trong cuộc. Và đã có rất nhiều nguyên nhân được liệt kê, khó khăn lớn nhất nằm trong giai đoạn đầu tiên của chuỗi sản xuất nông nghiệp, đó là bài toán thu hút các nguồn lực vào khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch. Dưới đây là phàn phỏng vẩn TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn – Giám đốc Trung tâm tư vấn chính sách NNNT CAP thuộc IPSARD.
Thưa TS Nguyễn Đỗ Anh Tuấn, đâu đó ở các tỉnh thành, trong đó có phía Nam cũng nới tới những khó khăn và thách thức của việc bảo quản sau chế biến các mặt hang nông – thủy sản của Việt Nam, nhưng thong thường người ta cho rằng đây là những phí tổn tất yếu. Bằng kinh nghiệm nghiên cứu và quan sát thị trường nông sản trong thời gian vừa qua thì ông có thể có những đánh giá cụ thể nào đối với những tổn thất của việc thiếu và yếu trong khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch có ảnh hưởng như thế nào đối với thị trường nông sản của Việt Nam?
Việc thiếu và yếu khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch là một chuyện khá nghiêm trọng. Bởi lẽ nước ta là một trong những nước xuất khẩu nông sản hang đầu thế giới đứng về khối lượng nhưng giá trị rất thấp. Khâu chế biến, bảo quản sau thu hoạch yếu khiến giá trị, chất lượng nông sản giảm rất nhiều và làm cho hang nông sản xuất khẩu của Việt Nam mang tiếng xấu. Cho nên, nếu xử lý được khâu này mới là tất yếu để có thể nâng cao được giá trị gia tăng cho sản xuất nông nghiệp. Vì nó vừa tăng giá bán, tạo việc làm, giảm tổn thất sau thu hoạch. Tạo chất lượng ổn định và tạo thương hiệu và tiếng tốt cho nông sản Việt.
Giữ được tiếng tốt là điều rất quan trọng bởi hiện nay theo thống kê, tổn thất sau thu hoạch của Việt Nam luôn là 2 con số, trên 10%., với ước tính hơn hàng tỷ đô la mỗi năm. Như vậy, lượng nông sản rơi vãi của Việt Nam cũng đứng tốp đầu thế giới. Phải chăng chúng ta vẫn chưa có những mức quan tâm cũng như hỗ trợ tới khâu này. Đây cũng là khâu khiến hàng nông sản Việt Nam dù đạt khối lượng cao như ông đã phân tích nhưng vẫn chưa có được thương hiệu trên thị trường quốc tế?
Câu chuyện doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn quá thấp, nông dân thì vẫn làm ăn nhỏ lẻ. Việc bảo quản và chế biến sau thu hoạch vẫn chỉ dừng lại ở cấp hộ. Chính vì thế sẽ làm tăng các chi phí và làm giảm chất lượng.
Vừa rồi có câu chuyện tư thương Trung Quốc ồ ạt sang thu mua nông sản của Việt Nam. Và quả vải cũng có chuyện họ tận thu tại vườn của người dân với mức giá cao và bán tại thị trường Trung Quốc với giá cao hơn gấp nhiều lần. Không bàn tới chuyện giá cả, một vị trong Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng cho rằng chuyện làm ăn nhỏ lẻ, thủ công thì việc thương lái nước ngoài thu mua hàng tại những thời điểm giữa vụ cũng giúp giải quyết hàng tồn kho tại Việt Nam. Vậy ông có thể đánh giá như thế nào về những ảnh hưởng của yếu tố thủ công và nhỏ lẻ, quy mô nhỏ tới khâu chế biến, bảo quản sau thu hoạch?
Nói về doanh nghiệp của chúng ta thì có thời điểm thua thương nhân Trung quốc ngay tại sân nhà và hầu hết các doanh nghiệp chưa có tính đầu tư chiến lược dài hạn. Chuyện nhỏ lẻ trong khâu bảo quản, giá trị gia tăng thấp, chất lượng kém mang lại tiếng xấu cho hàng xuất khẩu. Để làm được việc này, sắp tới, chủ trương của lãnh đạo Bộ Nông nghiệp cũng như một số nhà khoa học thì cần có một cuộc đổi mới toàn diện trong nông nghiệp trong đó hướng tới phát triển giá trị gia tăng. Tuy nhiên sẽ mất thời gian và khó khăn, không như kiểu chỉ giao đất cho hộ tự phát triển mà việc này cần có đầu tư dài hạn, cần có sự đi đầu của một vài doanh nghiệp, sự hợp tác công tư giữa Nhà nước – doanh nghiệp – cộng đồng – nông dân.
Đúng là cần sự phối hợp của nhiều bên liên quan, chúng ta cũng nhắc đến yếu tố quan trọng đó là vai trò của doanh nghiệp trực tiếp làm việc với những người nông dân. Trong phóng sự vừa rồi, chúng ta cũng thấy các doanh nghiệp đang hướng tới việc cung câp một dịch vụ cho người nông dân. Vậy vai trò của họ sẽ được thể hiện như thế nào trong thời gian tới?VÀ họ sẽ phải đối mặt với những thách thức gì?
Trong việc cung cấp dịch vụ cho người nông dân thì cũng đã có một số doanh nghiệp có kinh nghiệm làm ăn tốt, quản lý tốt như trương hợp của Vinamit. Ngoài những việc như ký hợp đồng, mua sản phẩm, đầu tư cho nông dân thì học còn cung cấp dịch vụ khuyến nông, tạo dịch vụ như tín dụng cũng như dịch vụ bảo quản chất lượng. Khuyến nông của chúng ta hiện nay mới chỉ dừng lại ở cây lúa và một vài vật nuôi còn sản phẩm mới thì chưa có. Tôi nghĩ đó là một hướng đi tốt, một hướng để xã hội hóa công tác khuyến nông, đáp ứng được đúng yêu cầu người dân.
Vấn đề những thách thức đối với doanh nghiệp khi đầu tư vào nguyên liệu để thu mua, chế biến bảo quản, điều khiến chúng ta lo ngại là họ không đảm bảo được những hợp đồng lâu dài, cam kết với nông dân, thiếu sự hỗ trợ của chính quyền địa phương. Dẫn đến rất khó thực hiện các hợp đồng nông sản, đó là chưa nói đến cơ sở hạ tầng ở nông thôn còn yếu kém.
Nhắc đến yếu tố cơ sở hạ tầng cần nhắc tới vai trò của Nhà nước, điều này chúng ta sẽ bàn luận ở phần sau của chương trình. Những khó khăn của người nông dân vãn tiếp diễn khi họ chưa có đợc đầu ra cho sản phẩm nông nghiệp. Để giải quyết vấn đề này cần có sự tham gia của doanh nghiệp và Nhà nước, tuy nhiên điều này cũng không hề đơn giản khi vẫn còn nhiều những vướng mắc khi triển khai những dự án nông nghiệp tại đây.
Bảo quản chế biến sau thu mua là khâu đầu tiên trong chuỗi sản xuất nông nghiệp. Tuy nhiên, thủ tục hành chính cũng đang gặp rất nhiều khó khăn khi các doanh nghiệp muốn đầu tư vào đây. Với khía cạnh là một chuyrn gia trong lĩnh vực nông nghiệp, quan sát rất nhiều thực tế thì theo ông, muốn đầu tư vào khâu bảo quản, chế biến sau thu hoạch thì cần chú ý tới những yếu tố nào?
Thực ra, đây chính là chuyện huy động các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp ở khâu bảo quản thì việc quan trọng nhất đối với họ là họ phải tìm được vùng có lợi thế về cây trồng vật nuôi, tức là đặt doanh nghiệp gần vùng nguyên liệu. Bởi sản phẩm nông nghiệp dễ bị hỏng, không thu mua bảo quan ngay thì chi phí vận chuyển sẽ rất lớn.
Khâu bảo quản, chế biến muốn khuyến khích được doanh nghiệp thì phải có mặt bằng, cơ sở hạ tầng khá đầy đủ, tránh tình trạng tranh chấp đất. Điện dùng cho sinh hoạt thì đủ nhưng dùng cho sản xuất thì yếu, đường cũng chỉ dành cho đời sống và vận chuyện thô sơ chứ chưa phải dành cho vận chuyển lớn như cho công-te-nơ đi. Đảm bảo nguồn nước sạch để doanh nghiệp đảm bảo khâu rửa làm sạch sản phẩm khi mới thu mua. Chưa nói tới một bộ phận cơ sở hạ tầng phục vụ cho thương mại dịch vụ như kho bãi, dịch vụ quản lý chất lượng, marketing, thông tin thị trường. Kèm theo đó là dịch vụ tín dụng, đào tạo dạy nghề… Tất cả đều phải phát triển một cách đồng bộ thì doanh nghiệp mới yên tâm đầu tư vào sản xuất vào các vùng chuyên sản xuất nông nghiệp.
Vấn đề tín dụng cần lưu ý, khi các doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp nông thôn sẽ rất khó khăn vì khu vực thành thị có rất nhiều ngân hàng cùng hoạt động tại một địa điểm, doanh nghiệp sẽ thấy thoải mái hơn về chuyện làm đơn vây vốn, còn về nông thôn thf chỉ có vài ngân hàng như nông nghiệp, người nghèo thì sẽ khó khăn cho việc vay vốn.
Như vậy có rất nhiều yếu tố ảnh hưởng đến phát triển và đầu tư của doanh nghiệp và nông nghiệp nông thôn. Có những yếu tố mà doanh nghiệp có thể tự vận động như chiến lược marketing, có những yếu tố họ không tự quyết định được như cơ sở vật chất như điện, đường phục vụ riêng cho lĩnh vực này. Những điều này phụ thuộc vào chính sách của nhà nước,đặc biệt là chính quyền địa phương. Việc chưa thống nhất được chính sách tại địa phương cũng chính là khó khăn khi các doanh nghiệp triển khai thu mua, biến sau thu hoạch?
Vấn đề địa phương gây ảnh hưởng tới doanh nghiệp vì trước nay có nhiều thủ tục nhiêu khê khiến doanh nghiệp không muốn đầu tư. Hiện nay, các địa phương cũng đã dần cải thiện được điều này. Giữa thành thị và nông thôn thì không khác nhau nhiều lắm về thủ tục hành chính, nông thôn bây giờ chủ động hơn thì mới kéo được doanh nghiệp về để kéo kinh tế của vùng đó lên. Doanh nghiệp bây giờ không phải tới xin chính quyền nữa mà điển hình như tỉnh Hậu Giang, các lãnh đạo tỉnh đi mời doanh nghiệp về đầu tư. Tuy nhiên, khi doanh nghiệp về địa phương thì cần sự giúp đỡ hỗ trợ của địa phương như việc giải phóng mặt bằng đất đai phải do địa phương thực hiện, bởi doanh nghiệp không có đủ khung pháp lý khi làm việc với dân, tránh tình trạng khiếu kiện. Tiếp theo, chính quyền nên vận động theo hệ thống chính trị của mình để người dân biết thông tin, sẵn sàng đàm phán với doanh nghiệp và ký kết các hợp đồng nông sản.
Đầu tư cơ sở hạ tầng không chỉ dựa vào chính quyền địa phương mà còn phụ thuộc vào Nhà nước, đầu tư vào vùng nguyên liệu trọng điểm, cụm công – nông nghiệp chính. Đòi hỏi kinh phí đầu tư rót từ Trung ương, các địa phương thì không thể đủ nguồn kinh phí này.
Việc hỗ trợ cho ký kết hợp đồng nông sản, ngoài chuyện vận động thì chĩnh quyền địa phương cần cung cấp thông tin đầy đủ, tư vấn các mối liên kết với tổ chức hợp tác, với cộng đồng dân cư để họ có thể ký hợp đồng với nông dân.
Rõ ràng doanh nghiệp đang cần thay đổi nhận thức, cũng như chính quyền địa phương nói riêng, Nhà nước nói chung về chiến lược này. Gần đây có Quyết định 63 của Thủ tướng về chính sách hỗ trợ lãi suất tín dụng để giảm tổn thất sau thu hoạch đối với nông – thủy sản. Đầu tư về vốn cho doanh nghiệp và người dân đã đủ để họ yên tâm về bảo quản chế biến sau thu hoạch không?
Hỗ trợ về lãi suất là một điểm tích cực khuyến khích cả doanh nghiệp và nông dân. Nhưng cũng phảo tính đến động lực của các ngân hàng khi tham gia vấn đề này, bởi có 2 yếu tố khiến ngân hàng xem xét, đó là chỗ cho vay đản bảo không bị vỡ nợ và chi phí giao dịch phải thấp vì ngân hàng chỉ ăn khoản chênh lệch.
Chúng ta có thể nghĩ tới phương hướng khác để hỗ trợ cho doanh nghiệp vay vốn, cũng như nông dân một cách hợp lý hơn. Có thể làm ra một quỹ riêng, trong đó HTX cũng phải chia sẻ 1 phần vốn như một cổ đông, lúc đó chính doanh nghiệp là người bảo lãnh tín dụng cho người nông dân ký hợp đồng.
Chúng ta đã nhắc nhiều tới những rủi ro trong nông nghiệp như bảo hiểm rủi ro, điều đó cần sự kết hợp của các cơ quan bảo hiểm, của cơ quan Nhà nước. Ngoài ra, vấn đề về vốn và tín dụng, người nông dân và doanh nghiệp cần những hỗ trợ nào?
Người nông dân muốn làm giá trị gia tăng trong nông nghiệp cao, ký kết hợp đồng trong bảo quản chế biến… thì họ phải có hỗ trợ kỹ thuật để đảm bảo một số tiêu chuẩn nhất định đẻ giảm hao hụt cũng như chi phí giao dịch cho doanh nghiệp rất nhiều. Và họ cần có vốn để đầu tư công nghệ mới.
Các doanh nghiệp làm ăn với nông dân kiểu manh mún, đất nhỏ lẻ thì học rất ngại làm, chính vì thế cần thúc đẩy người nông dân sản xuất nhỏ lẻ tích tụ đất, đầu tư công nghệ… để 2 bên có thể ký kết hợp đồng.
AGROINFO – INFOTV phối hợp thực hiện


Báo cáo phân tích thị trường