Theo đó, tài nguyên nước của Việt Nam ẩn chứa nhiều yếu tố không bền vững.
Điều này là do phần nước mặt từ ngoài lãnh thổ chảy vào nước ta chiếm khoảng 63% lượng nước với trên 70% diện tích lưu vực của các hệ thống sông ngòi.
Sự biến đổi của khí hậu toàn cầu sẽ dẫn đến sự suy giảm nguồn nước. Các kết quả nghiên cứu gần đây ở Việt Nam cho thấy tổng lượng nước mặt của nước ta vào năm 2025 chỉ bằng khoảng 96%.
Đến năm 2070 xuống còn khoảng 90% và năm 2100 chỉ còn khoảng 86% so với hiện nay.
Lượng nước mặt bình quân đầu người hiện nay ở nước ta đạt khoảng 3.840 m3/người/năm. Nếu tính tổng lượng tài nguyên nước sông ngòi ở Việt Nam (kể cả tài nguyên nước từ ngoài chảy vào) thì bình quân đạt 10.240m3/người/năm.
Với tốc độ phát triển dân số như hiện nay thì đến năm 2025 lượng nước mặt tính bình quân đầu người ở nước ta chỉ đạt khỏang 2.830 m3/người/năm. Tính cả lượng nước từ bên ngoài chảy vào thì bình quân đạt 7.660 m3/người/năm.
Theo chỉ tiêu đánh giá của Hội tài nguyên nước quốc tế (IWRA), quốc gia nào có lượng nước bình quân đầu người dưới 4.000 m3/người/năm là quốc gia thiếu nước.
Như vậy nếu chỉ tính riêng lượng tài nguyên nước mặt sản sinh trên lãnh thổ nước ta thì ở thời điểm hiện nay nước ta đã thuộc số các quốc gia thiếu nước và Việt Nam sẽ gặp phải rất nhiều thách thức về tài nguyên nước trong tương lai gần.
Cũng theo một quan chức của Bộ Tài nguyên&Môi trường, tài nguyên nước tại Việt Nam phân bố không đều giữa các vùng.
Trên 60% nguồn nước sông tập trung ở khu vực Đồng bằng Cửu Long (lưu vực sông Mê Kông) trong khi toàn phần lãnh thổ còn lại chỉ có gần 40% lượng nước nhưng lại chiếm tới gần 80% dân số cả nước và trên 90% khối lượng hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ.
Đặc biệt các địa phương vùng miền Đông Nam Bộ và lưu vực Đồng Nai – Sài Gòn, lượng nước bình quân đầu người chỉ đạt khoảng 2.900 m3/ người/năm, bằng 28% so với mức trung bình của cả nước.
Bên cạnh đó, tài nguyên nước của Việt Nam cũng phân bố không đều theo thời gian trong năm và giữa các năm.
Lượng nước trung bình trong 4 đến 5 tháng mùa mưa chiếm khoảng 75 – 85% trong khi những tháng mùa khô (kéo dài đến 7- 8 tháng) lại chỉ có khoảng 15 – 25 % lượng nước của cả năm.
Theo đánh giá của các nhà nghiên cứu, tốc độ tăng trưởng kinh tế cao không đi đôi với làm tốt công tác bảo vệ môi trường đã gây ra những ảnh hưởng tiêu cực tới tài nguyên nước ở nước ta.
Tình trạng ô nhiễm nguồn nước mặt ngày càng tăng cả về mức độ và quy mô. Nguồn nước dưới đất ở nhiều đô thị, một số khu vực đồng bằng đã có biểu hiện ô nhiễm do các chất hữu cơ khó phân hủy và hàm lượng vi khuẩn cao.
Các biểu hiện suy thoái, cạn kiệt nguồn nước dưới đất đang trở nên rõ rệt và phổ biến ở nước ta.
Cũng theo cảnh báo của các nhà khoa học, với những đặc điểm về tính không bền vững của tài nguyên nước ở nước ta, công tác quản lý nhà nước đối với nguồn tài nguyên quý báu này cần phải được tăng cường ở tất cả các cấp ngay từ bây giờ trước khi quá muộn.