Kết nối nghiên cứu với thực tiễn
cho một nền NÔNG NGHIỆP tăng trưởng toàn diện
Xuất khẩu gỗ tăng trưởng 7,3%, nguyên liệu trong nước thành lợi thế cạnh tranh
08 | 10 | 2026
Trong bối cảnh thị trường xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ đang phân hóa mạnh cùng yêu cầu truy xuất nguồn gốc ngày càng cao, nguồn nguyên liệu rừng trồng trong nước đang trở thành lợi thế quan trọng, giúp ngành gỗ giảm phụ thuộc nhập khẩu và nâng sức cạnh tranh.

Nguồn: VnEconomy

 

Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tháng 9/2026 đạt 1,62 tỷ USD, đưa tổng giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 9 tháng đầu năm 2026 đạt gần 13,43 tỷ USD, tăng 7,3% so với cùng kỳ năm 2025.
 
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường tiêu thụ gỗ và sản phẩm gỗ lớn nhất của Việt Nam, chiếm thị phần 50,1%. Trung Quốc và Nhật Bản là hai thị trường lớn tiếp theo, với thị phần tương ứng 15% và 12,5%.
 
PHÂN HÓA MẠNH GIỮA CÁC THỊ TRƯỜNG XUẤT KHẨU
 
Tuy nhiên, diễn biến xuất khẩu giữa các thị trường có sự phân hóa. So với cùng kỳ năm trước, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ 9 tháng đầu năm 2026 sang thị trường Hoa Kỳ giảm 4,6%, trong khi thị trường Trung Quốc tăng 43,4% và thị trường Nhật Bản tăng 5,3%.
 
Trong nhóm 15 thị trường xuất khẩu lớn nhất, giá trị xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tăng mạnh nhất tại thị trường Bỉ, với mức tăng 2,4 lần. Ngược lại, Ấn Độ là thị trường có mức giảm mạnh nhất, với 25,9%.
 
Để duy trì tăng trưởng cho ngành gỗ, nguồn nguyên liệu từ rừng trồng và hoạt động khai thác gỗ rừng trồng tiếp tục đóng vai trò quan trọng đối với ngành chế biến gỗ.
 
Theo Bộ Nông nghiệp và Môi trường, trong quý 3/2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 70,6 nghìn ha, giảm 1,2% so với cùng kỳ năm trước. Số cây lâm nghiệp trồng phân tán ước đạt 19,9 triệu cây, tương đương cùng kỳ năm trước. Trong khi đó, sản lượng gỗ khai thác ước đạt 7.089,4 nghìn m3, tăng 6,0% so với tháng 9/2025.
 
Tính chung 9 tháng năm 2026, diện tích rừng trồng mới tập trung ước đạt 215,8 nghìn ha, giảm 3,0% so với cùng kỳ năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do cùng kỳ năm 2025 một số địa phương đẩy mạnh trồng lại diện tích rừng bị thiệt hại sau bão số 3 (Yagi), khiến quỹ đất rừng trồng mới giảm.
 
Một số địa phương ghi nhận diện tích rừng trồng mới giảm mạnh so với cùng kỳ, trong đó Quảng Ninh giảm 55,4%; Lai Châu giảm 39,9%; Cao Bằng giảm 27,2%; Lạng Sơn giảm 6,7%.
 
Trong khi đó, số cây lâm nghiệp trồng phân tán trong 9 tháng đạt 71,3 triệu cây, tăng 1,6%.
 
Sản lượng gỗ khai thác từ rừng trồng trong 3 quý của năm 2026 đạt 18.901,0 nghìn m3, tăng 5,3% so với cùng kỳ năm trước. Sản lượng khai thác gỗ tăng trong bối cảnh giá gỗ nguyên liệu ở mức cao và tương đối ổn định, qua đó khuyến khích người dân đẩy mạnh khai thác những diện tích rừng đến tuổi thu hoạch.
 
Một số địa phương có tốc độ khai thác gỗ tăng khá so với cùng kỳ năm trước, gồm Lạng Sơn tăng 11,9%; Quảng Ngãi tăng 7,9%; Quảng Trị tăng 7,7%; Đà Nẵng tăng 7,3% và Cà Mau tăng 7,2%.
 
Những con số trên cho thấy, trong khi xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ tiếp tục duy trì đà tăng trưởng, nguồn cung nguyên liệu trong nước vẫn là một yếu tố quan trọng đối với năng lực sản xuất và xuất khẩu của ngành gỗ. Việc duy trì diện tích rừng trồng, nâng sản lượng gỗ khai thác và bảo đảm nguồn nguyên liệu ổn định sẽ tiếp tục có ý nghĩa đối với hoạt động chế biến, xuất khẩu gỗ trong thời gian tới.
 
NGUYÊN LIỆU TRONG NƯỚC THÀNH LỢI THẾ CẠNH TRANH
 
Lợi thế cạnh tranh của ngành gỗ Việt Nam đang chuyển dịch từ năng lực chế biến sang hệ sinh thái gồm nguyên liệu, chế biến và thị trường. Trong đó, nguồn gỗ rừng trồng trong nước ngày càng trở thành lợi thế quan trọng, giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào nguyên liệu nhập khẩu, tăng tính minh bạch và đáp ứng các yêu cầu ngày càng cao của thị trường quốc tế.
 
Theo số liệu hiện trạng rừng Việt Nam của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, giai đoạn 2010-2025, tổng diện tích rừng trồng cả nước tăng từ 3,08 triệu ha lên 4,89 triệu ha. Riêng diện tích rừng trồng sản xuất tăng từ 2,28 triệu ha lên khoảng 4,16 triệu ha.
 
Trong giai đoạn 2012-2021, tổng lượng gỗ sử dụng cho sản xuất tại Việt Nam tăng từ 11,8 triệu m3 lên 37,9 triệu m3. Dù lượng gỗ sử dụng tăng hơn 3 lần, tỷ trọng gỗ nhập khẩu trong tổng lượng gỗ sử dụng lại giảm từ 26% xuống 16%.
 
Theo chuyên gia lâm nghiệp Phạm Đức Thiềng, đây là nền tảng để ngành gỗ chuyển từ “lợi thế về chế biến” sang “lợi thế của cả hệ sinh thái nguyên liệu - chế biến - thị trường”. Trong bối cảnh các thị trường lớn ngày càng quan tâm đến nguồn gốc, tính hợp pháp và khả năng truy xuất, gỗ nguyên liệu trong nước có hồ sơ minh bạch sẽ trở thành một tài sản cạnh tranh của doanh nghiệp.
 
Tuy nhiên, ngành gỗ vẫn đối mặt với sự phân mảnh nguồn nguyên liệu do hàng triệu hộ gia đình trồng rừng quy mô nhỏ. Theo ông Thiềng, thay vì buộc các hộ nhỏ lẻ trở thành doanh nghiệp lớn, cần tổ chức lại thành các vùng nguyên liệu có năng lực quản trị tập thể, với doanh nghiệp chế biến đóng vai trò kết nối và dẫn dắt.
 
Mô hình liên kết cần hình thành theo chuỗi: Hộ trồng rừng - Nhóm hộ - Doanh nghiệp liên kết thành Vùng nguyên liệu - Hệ thống dữ liệu và truy xuất nguồn gốc. Qua đó, sự phân mảnh về diện tích đất không dẫn tới phân mảnh về quản trị và chất lượng nguồn cung.
 
Một vấn đề khác là thay đổi phương thức phát triển rừng nguyên liệu. Nhu cầu sản xuất dăm gỗ từng thúc đẩy mạnh diện tích rừng trồng, nhưng trồng rừng phục vụ dăm gỗ khác với trồng rừng cung cấp gỗ lớn cho sản xuất đồ nội ngoại thất. Do đó, ngành cần phối hợp giữa Nhà nước, nhà khoa học và doanh nghiệp, đồng thời mở rộng liên kết trực tiếp với hộ trồng rừng để nâng chất lượng giống, mật độ trồng, chu kỳ khai thác và kỹ thuật chăm sóc.
 
Ông Thiềng dự báo trong 5-10 năm tới, lợi thế của ngành gỗ được dự báo sẽ chuyển từ “Nhân công cạnh tranh + Chế biến tốt + Giá thành hợp lý” sang “Nguyên liệu có trách nhiệm + Dữ liệu minh bạch + Chế biến hiệu quả + Thiết kế + Công nghệ + Thương hiệu”.
 
Theo ông Nguyễn Quốc Khanh, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST), ngành gỗ Việt Nam vẫn chủ yếu là một trung tâm sản xuất, nằm ở “mắt xích” cuối cùng của chuỗi giá trị. Phần lớn doanh nghiệp vẫn làm gia công (OEM), chưa chuyển mạnh sang tự thiết kế (ODM) và tự chủ thương hiệu (OBM).
 
Để thay đổi vị thế, ông Khanh đề xuất 5 hướng trọng tâm, gồm: nâng cao hàm lượng thiết kế và xây dựng thương hiệu quốc gia; đẩy mạnh tự động hóa, chuyển đổi số và ứng dụng AI; duy trì tính bền vững, minh bạch và truy xuất nguồn gốc; tái cấu trúc chuỗi cung ứng liên kết vùng Đông Nam Á; đồng thời chủ động thông tin và ngoại giao thương mại.
 
"Việt Nam hiện có 14,97 triệu ha rừng, trong đó 4,89 triệu ha rừng trồng. Nguồn nguyên liệu rừng trồng trong nước, cùng khả năng chứng minh nguồn gốc hợp pháp, sẽ là “tấm hộ chiếu” để ngành gỗ duy trì sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế", ông nhấn mạnh.


Báo cáo phân tích thị trường