Kết nối nghiên cứu với thực tiễn
cho một nền NÔNG NGHIỆP tăng trưởng toàn diện
Ông bà Thư Viện - bản lĩnh hai lần khởi nghiệp
16 | 10 | 2026
Trang trại trù phú ở Đá Bạc rồi đến thương hiệu Cu Đơ nức tiếng Hà Tĩnh, ông bà Thư Viện hai lần khởi nghiệp bằng bản lĩnh, trí tuệ và tinh thần tận hiến.

Nguồn: https://nongnghiepmoitruong.vn

Đi xa về gần qua Hà Tĩnh, hầu như du khách ai cũng mua một ít kẹo Cu Đơ về làm quà cho người thân. Cu Đơ đã trở thành một thương hiệu nổi tiếng khắp cả nước, nhưng ít ai biết về người đã làm nên thương hiệu này. Đó là ông bà Thư Viện, cặp vợ chồng với hai lần khởi nghiệp đầy bản lĩnh.

Sản phẩm kẹo cu đơ thương hiệu Cu Đơ ông bà Thư Viện. Ảnh: Thúy Vi - GĐCC.

Trang trại trên vùng Đá Bạc

Sinh ra trong một gia đình nhà Nho nghèo, nhưng lớn lên, chàng trai Đặng Kim Thư người làng Cẩm Bào, xã Cẩm Tiến, huyện Cẩm Xuyên, tỉnh Hà Tĩnh không theo nghiệp bút nghiên của cha ông mà có một đam mê đặc biệt với nghề nông.

Năm 1954, sau khi kết hôn với bà Nguyễn Thị Lương người cùng huyện, hưởng ứng chủ trương của Đảng về khai hoang phát triển kinh tế mới, ông đưa cả gia đình lên vùng núi Đá Bạc thuộc Tây Bắc Hà Tĩnh lập nghiệp. Thời bấy giờ, đây là vùng vùng rừng núi nguyên sinh hoang vu. Theo các cụ xưa truyền lại, cái tên Đá Bạc xuất phát từ những ngọn núi đá trắng ở đây. Nhạc sĩ Nguyễn Văn Tý trong bài hát nổi tiếng Người đi xây hồ Kẻ Gỗ cũng từng miêu tả: "Nay vùng Đá Bạc đồi núi lô nhô".

Ông Đặng Kim Thư (1926-2025). Ảnh: GĐCC.

Trang trại của ông bà Thư Viện [1] nằm ở Km10 trên đường 22, cách sân bay Li Bi - một trọng điểm đánh phá ác liệt của không quân Mỹ trong chiến tranh xâm lược Việt Nam, khoảng 4km.

Với bản lĩnh của một người hiểu biết về nông nghiệp, lại có sức khỏe, cần mẫn và thông minh, ông Thư đã quy hoạch mảnh đất hoang vu rộng gần 20ha thành một trang trại trù phú bậc nhất vùng.

Giữa rừng núi sâu đầy thú hoang, thậm chí có cả hổ báo, ông nghĩ ra sáng kiến đào hệ thống hào sâu gần 2m, rộng 2m bao quanh toàn bộ trang trại. Vì thế trang trại của ông không bị thú hoang phá hoại hoặc đe doạ đến tính mạng. Đến giai đoạn Mỹ thực hiện chiến tranh phá hoại miền Bắc, hệ thống hào chống thú dữ này đã được ông lót gỗ, đan mên nứa, phủ đất lên trên, biến thành hệ thống hầm tránh bom kiên cố, bảo vệ an toàn cho gia đình, bộ đội, thanh niên xung phong và dân trong vùng trú ẩn mỗi khi máy bay Mỹ oanh tạc.

Không chỉ trồng trọt, ông bà còn thể hiện một mô hình chăn nuôi "nhân đàn" rất độc đáo và hiệu quả. Tận dụng những trảng cỏ tự nhiên xanh tốt bốn mùa ở vùng Đá Bạc, ông nhận chăn hộ trâu bò cho bà con ở dưới các làng gửi lên. Thỏa thuận giữa chủ trâu bò và người chăm dắt thuê được thống nhất rất rõ ràng và nhân văn, đó là khi trâu bò đẻ đến con thứ hai, ông bà được giữ lại một con làm của riêng.

Bắt đầu từ số không, bằng sự chăm sóc chu đáo cho các chủ trâu bò đến gửi, ông bà đã gây dựng nên một đàn trâu bò đông đúc hơn 200 con của riêng mình.

và vợ ông Đặng Kim Thư (1930-2007). Ảnh: GĐCC.

Bên cạnh chăn nuôi trâu bò, trong trang trại của mình, ông bà còn thực hiện mô hình đa canh sinh thái chăn nuôi gia cầm, trồng đủ các loại cây lưu niên và đặc biệt là chè, sản phẩm hàng hóa bán rất chạy thời bấy giờ. Toàn bộ công việc nặng nhọc đều do hai vợ chồng cùng con cháu tự tay đảm nhiệm. Trong những năm tháng chiến tranh ác liệt, trang trại Đá Bạc của ông bà trở thành hậu phương vững chắc, ngày ngày cung cấp rau củ quả, lương thực cho bộ đội hành quân vào chiến trường miền Nam qua vùng Đá Bạc. Năm 1960, ông tham gia làm công nhân Lâm trường Cẩm Kỳ. Năm 1964, bà gác lại việc nhà, tham gia dân công hỏa tuyến hơn một năm trời.

Dù thu nhập từ trang trại rất nhiều nhưng gia đình ông bà luôn tiết kiệm, chi tiêu tằn tiện. Hầu hết số tiền có được từ trang trại ông bà đều mang gửi vào Ngân hàng Nhà nước. Đến năm 1974, tròn 20 năm lập nghiệp ở Đá Bạc, ngoài tài sản lớn ở trang trại, ông bà còn có trên 10.000đ tiền tiết kiệm gửi ngân hàng, tính ra bằng khoảng 20 cây vàng. Đây là một số tiền lớn vì lúc đó người hưởng lương cao cũng chỉ khoảng 70đ/tháng, gạo thịt còn tính bằng xu, hào.

Cuối năm 1975, Nhà nước triển khai xây dựng công trình Đại thủy nông hồ Kẻ Gỗ. Toàn bộ trang trại trù phú, thành quả lao động suốt hơn 20 năm ròng của ông bà nằm trọn trong quy hoạch lòng hồ. Lặng lẽ hy sinh lợi ích riêng vì công trình lớn của quê hương, ông bà thu dọn mọi thứ có thể mang đi và rời Đá Bạc với khoản tiền đền bù di dời ít ỏi, chỉ vẻn vẹn 500 đồng. Hành trình khởi nghiệp lần đầu của gia đình ông bà khép lại bằng sự tự nguyện cống hiến cao đẹp.

Hồ Kẻ Gỗ - nơi ông bà Thư Viện lần đầu lập nghiệp. Ảnh: T.Nga.

Biến cố 1977 và bản lĩnh tiếp tục khởi nghiệp

Rời vùng lòng hồ Kẻ Gỗ, ông bà Thư Viện chọn đưa gia đình về khu vực Cầu Phủ (thị xã Hà Tĩnh xưa). Ông mua một mảnh đất rộng 800 m² bên Quốc lộ 1A, gần Xí nghiệp gỗ Cầu Phủ, nơi ông làm thủ quỹ.

Những ngày đầu chuyển về đây, cuộc sống của gia đình vô cùng chật vật. Số tiền đền bù 500 đồng chỉ đủ cất tạm căn nhà nhỏ. Ít gỗ làm nhà đưa từ trang trại về bị tịch thu do không đảm bảo thủ tục hành chính thời bao cấp. Số tiền tiết kiệm trên 10.000 đồng, tài sản tích góp cả đời ở Đá Bạc nằm trong ngân hàng nhưng do những quy định khắt khe thời bấy giờ khiến ông bà không thể rút ra để làm vốn kinh doanh.

Để nuôi 4 người con ăn học, bà mở quán bán kẹo bánh, nước chè tươi dưới gốc cây ngô đồng trước nhà, và lặn lội đi buôn chuyến ra Hà Nội. Bà gom từng chục trứng, từng cân đậu, lạc ra Hà Nội bán, rồi lại mua quạt giấy, giấy moi quấn thuốc lá, kim chỉ về Hà Tĩnh bán. Giữa lúc cuộc sống vừa mới manh nha ổn định thì sóng gió lớn nhất đời ông bà lại ập đến, vào năm 1977 ông bị mất hết tiền quỹ. Thời đó chưa có két sắt, tiền quỹ phát lương cho công nhân Xí nghiệp gỗ Cầu Phủ được ông cất cẩn thận trong rương nhưng rồi kẻ trộm đã khoắng sạch.

Trước hoàn cảnh ấy, cơ quan công an đã can thiệp, hỗ trợ làm thủ tục đặc biệt để Ngân hàng cho ông rút toàn bộ số tiền tiết kiệm hơn 10.000 đồng tích cóp suốt từ năm 1954 đến 1975 để bù cho số tiền đã mất. Toàn bộ sản nghiệp được tích tụ bằng cả tuổi xuân và mồ hôi nước mắt ở vùng Đá Bạc bỗng chốc thành mây khói. Nhìn gia cảnh rơi vào khó khăn đủ đường, người đàn ông mang dòng máu nhà Nho nghèo làng Cẩm Bào không cho phép mình gục ngã. Giữa tột cùng gian khó, bản lĩnh của một người luôn tràn trề ý chí khởi nghiệp lại bùng lên mãnh liệt. Ông bà lại cẩn trọng tính toán đường mưu sinh mới từ bàn tay lao động của chính mình.

"Sáng chế" từ sự tình cờ và thương hiệu Cu Đơ Thư Viện

Theo nhà nghiên cứu Thái Kim Đỉnh, Cu Đơ có nguồn gốc là “kẹo lạc non” [2], được nấu bằng mật và lạc, đổ lên giấy hoặc lá chuối. Ngày trước, kẹo lạc non được bán phổ biến ở các chợ vùng quê Hương Sơn, Đức Thọ (Hà Tĩnh).

Năm 1952-1953, ở Chợ Bè Hương Sơn có một người nấu kẹo lạc non tên là Đinh Vy, thường được gọi là Cu Hai hoặc Đinh Hai. Gần nhà anh Hai lúc đó có trường thiếu sinh quân, học sinh chủ yếu là người Bình - Trị - Thiên ra học. Họ rất hay đến quán của anh Hai ăn kẹo lạc non. Vì bấy giờ, nội quy của nhà trường rất nghiêm nên mỗi khi học sinh rủ nhau trốn đi ăn kẹo ở quán anh Hai thường phải dùng từ lóng “đi Cu Đơ”. “Cu” tiếng Hà Tĩnh là “anh”, “Đơ” tiếng Pháp là Hai. “Đi Cu Đơ”, nói lóng nghĩa là đi ăn kẹo quán anh Hai. Đi nhiều thành đường, gọi nhiều thành tên. Cái tên Cu Đơ có từ đó. Sau, ông bà Thư Viện là những người có công cải tiến sản phẩm, phát triển thương hiệu và truyền nghề, góp phần lan tỏa nghề làm kẹo Cu Đơ ở Cầu Phủ.

Sản phẩm Cu Đơ ông bà Thư Viện đảm bảo vệ sinh trong quy trình chế biến. Ảnh: Thúy Vy - GĐCC.

Nhớ lại những ngày tháng làm công nhân tại Nông trường Cẩm Kỳ ở Đá Bạc, mỗi vụ ép mía nấu mật, ông Thư thường mang theo ít lạc thả vào cặn mật đọng dưới đáy chảo để làm kẹo lạc mang về cho các con. Kinh nghiệm ấy giờ trở thành "vốn khởi nghiệp" lần thứ hai của gia đình.

Ban đầu, ông bà nấu kẹo lạc mật mía rồi múc đổ lên những tờ giấy báo cũ, cắt nhỏ để bán lẻ cho khách qua đường. Đây là cách làm dân dã, tận dụng nguyên liệu sẵn có phù hợp với điều kiện buôn bán nhỏ. Rồi một lần, gia đình không có giấy báo để đổ kẹo. Sẵn có mấy chiếc bánh đa nướng, ông bà nảy ra sáng kiến dùng bánh đa thay thế. Khi ăn thử, mọi người bất ngờ phát hiện ra hương vị tuyệt vời: vị giòn rụm của bánh đa vừng hòa quyện hoàn hảo với độ dẻo quánh của mật mía, vị bùi béo của lạc và vị cay ấm nồng của gừng tươi. Từ sự tình cờ ấy, kẹo lạc đổ trên bánh đa ra đời và dần trở thành thương hiệu riêng biệt của gia đình: Cu Đơ Thư Viện.

Để làm nên thương hiệu Cu Đơ Thư Viện, ông Thư từng nói với tôi: "Công thức thì ai cũng có thể biết, nhưng tay nghề và cái tâm tỉ mẩn mới quyết định chất lượng". Mật mía phải là mật mía đồi nguyên chất, màu vàng óng, sánh quyện, không có vị chua, được bảo quản trong các chum sành da lươn trơn bóng để giữ nguyên chất lượng theo thời gian. Lạc phải chọn loại lạc Cúc hạt nhỏ, béo bùi, vỏ lụa bám chắc. Bánh đa làm từ bột gạo xay cối đá thủ công, rắc nhiều vừng, tráng vừa chín, phẳng tuyệt đối và không bị thủng. Mật mía nấu sôi, cho gừng giã nhỏ và lạc sống vào, người thợ phải quấy liên tục, đều tay theo đúng một chiều kim đồng hồ để lạc không tróc vỏ hay lắng xuống đáy gây cháy. Độ chín của kẹo được đo bằng bí quyết dân gian, dùng đũa nhỏ một giọt mật vào bát nước lã, nếu giọt mật rơi xuống tròn vo, không tan chảy là mật đã "đạt độ".

Quán Cu Đơ của ông bà tại Cầu Phủ. Ảnh: GĐCC.

Từ chỗ tiêu thụ rất khó khăn, đến năm 1983, tiệm kẹo Cu Đơ Thư Viện tại Cầu Phủ đắt khách tới mức "làm không kịp bán". Gia đình ông lại nổi tiếng giàu có như thời kỳ làm trang trại ở Đá Bạc.

Bản quyền của sự tận hiến

Khi Cu Đơ Thư Viện trở thành thương hiệu độc quyền, mang lại nguồn thu nhập cao, ông bà Thư Viện đã làm một việc đầy nhân ái, truyền nghề cho làng xóm. Ông bà đã truyền dạy lại toàn bộ kỹ thuật chọn mật, thử kẹo, tráng bánh cho bất kỳ ai muốn học nghề. Từ chỗ chỉ có lò nấu Cu Đơ của ông bà, đã xuất hiện thêm nhiều hộ gia đình Cầu Phủ mở lò sản xuất. Nối tiếp nhau, hàng chục rồi hàng trăm lò nấu Cu Đơ dọc Quốc lộ 1A, biến Cầu Phủ từ một vùng ven thị xã trở thành Làng nghề sản xuất kẹo Cu Đơ truyền thống nổi danh cả nước. Nhiều gia đình thoát nghèo từ nấu kẹo Cu Đơ. Có thể nói ông bà Thư Viện là tổ nghề của nghề nấu Cu Đơ Cầu Phủ.

Dưới góc độ đổi mới sáng tạo và sở hữu trí tuệ hiện đại, sáng kiến dùng bánh đa nướng thay thế giấy báo hay lá chuối để đựng kẹo lạc nấu bằng mật mía của ông Đặng Kim Thư là một sáng kiến cải tiến sản phẩm có giá trị thực tiễn vô cùng to lớn.

Ở nhiều quốc gia, sáng kiến này được cấp Bằng sáng chế độc quyền và mang lại cho tác giả nguồn thu không nhỏ. Thế nhưng, lão nông xứ Nghệ ấy đã cống hiến trọn vẹn sáng chế của mình cho xã hội mà không đòi hỏi bất kỳ quyền lợi riêng nào. Ông trao sinh kế cho hàng trăm hộ dân, kiến tạo nên một làng nghề truyền thống đem lại doanh thu nhiều tỷ đồng mỗi năm cho địa phương, góp phần đưa Cu Đơ trở thành biểu tượng văn hóa du lịch đại diện cho tỉnh Hà Tĩnh.

Nhãn hiệu "Cu Đơ Ông Bà Thư Viện" đã chính thức được Cục Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu bảo hộ số 455478. Ông bà đã truyền dạy lại toàn bộ kỹ thuật chọn mật, thử kẹo, tráng bánh cho bất kỳ ai muốn học nghề. Ảnh: Thúy Vy - GĐCC.

Tiếp nối di sản của ông bà, ngày nay các thế hệ con cháu gia đình Thư Viện đã chuẩn hóa thương hiệu. Nhãn hiệu "Cu Đơ Ông Bà Thư Viện" đã chính thức được Cục Sở hữu Trí tuệ (Bộ Khoa học và Công nghệ) cấp Giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu bảo hộ số 455478. Sản phẩm đạt đầy đủ các tiêu chuẩn kỹ thuật nghiêm ngặt (QCĐP1:2023/HTH), kiểm định an toàn thực phẩm và trở thành sản phẩm OCOP đại diện cho ẩm thực Hà Tĩnh.

Ông Đặng Kim Thư còn là một thi sĩ dân gian. Ảnh: GĐCC.

Không chỉ là một nhà khởi nghiệp tài ba, ông Đặng Kim Thư còn là một thi sĩ dân gian với tâm hồn vô cùng phong phú. Bắt đầu làm thơ từ những ngày gian khổ ở Đá Bạc, ông đã viết hàng trăm bài thơ ghi lại chặng đường lịch sử, vẻ đẹp quê hương, tình cảm sâu nặng với Đảng, Bác Hồ và với chính nghề làm kẹo Cu Đơ. Nếu ai từng ghé quán khi ông còn sống sẽ thấy thơ ông in bạt treo khắp trên tường quán. Một bên là công việc lao động mưu sinh nuôi con, một bên là tâm hồn thơ ca ghi lại cảm xúc với quê hương đất nước, hai nét tính cách ấy hòa quyện, tạo nên chân dung một người lao động Việt Nam chất phác, trí tuệ và giàu lòng vị tha.

Gần một thế kỷ đi qua, hai lần khởi nghiệp từ hai bàn tay trắng, ông bà Thư Viện đã để lại bài học sâu sắc về tinh thần "ngã ở đâu, đứng dậy ở đó". Thành công của ông bà minh chứng cho một triết lý khởi nghiệp vượt thời đại: Khởi nghiệp không bắt đầu từ những điều xa xôi hay nguồn vốn lớn lao, mà bắt nguồn từ chính sự cần mẫn, tinh thần lao động nghiêm túc, tư duy cải tiến không ngừng từ những sản phẩm giản dị nhất. Và quan trọng hơn cả, làm giàu chân chính phải luôn gắn liền với đạo đức kinh doanh, lòng vị tha và tinh thần phụng sự cộng đồng.

Thơ ông được trang trí trên tường quán và bao bì của Cu Đơ. Ảnh: GĐCC.

Tháng doanh nhân, về lại Cầu Phủ, ngắm những biển hiệu Cu Đơ nối tiếp trải dài dọc phố, nhấp ngụm nước chè xanh đắng chát, cắn miếng Cu Đơ giòn bùi ngọt thanh, lòng chợt thấy thêm trân quý hành trình phi thường của ông bà Thư Viện, những con người đã làm nên một thương hiệu cho quê hương bằng tất cả bản lĩnh, trí tuệ và trái tim tận hiến.

Cầu Phủ 13/10/2026

[1] Gọi theo cách ghép tên bố và tên con trai, một tập quán truyền thống của Hà Tĩnh.

[2] Để phân biệt với loại kẹo lạc mấu bằng đường thành tấm khô, vuông như ta thấy ngày này.



Thái Văn Sinh
Báo cáo phân tích thị trường