Nguồn: danviet.vn
Quy mô chăn nuôi Việt Nam đứng tốp đầu thế giới
Theo số liệu của Hội Chăn nuôi Việt Nam, giai đoạn 2020-2025, quy mô ngành chăn nuôi Việt Nam đã có nhiều bước phát triển vượt bậc. Theo đó, năm 2025, đàn gia cầm 590 triệu con, tăng 1,14%, đàn lợn trên 31 triệu con, tăng 1,22% so với năm 2020.
Sản lượng thịt tăng 1,36 lần, từ 6,33 triệu tấn lên 8,62 triệu tấn; Sản lượng trứng tăng 1,27 lần, từ 16,66 tỷ quả lên 21,08 tỷ quả; Sản lượng sữa tươi tăng 1,32 lần, từ 0,99 triệu tấn lên 1,32 triệu tấn.
Chính sự phát triển này đã đưa ngành chăn nuôi Việt Nam luôn đứng ở tốp đầu thế giới, trong đó, đứng thứ 6 thế giới về tổng đàn lợn, đứng thứ 2 thế giới về đàn thủy cầm và đứng đầu các nước ASEAN về sản xuất thức ăn chăn nuôi….
Sản lượng TACN công nghiệp năm 2025 đạt 22,12 triệu tấn, tăng 10,54% so với năm 2020. Năm 2025, nhập khẩu TACN đạt 24,78 triệu tấn (tương đương 8,22 tỷ USD), trong đó, thức ăn giàu đạm 9,43 triệu tấn (tương đương 3,38 tỷ USD), thức ăn giàu năng lượng 14,32 triệu tấn (tương đương 3,6 tỷ USD), thức ăn bổ sung 940,8 nghìn tấn (tương đương 1,04 triệu USD), thức ăn hỗn hợp hoàn chỉnh 30,0 nghìn tấn (tương đương 46,33 triệu USD), cỏ khô 65,53 nghìn tấn (tương đương 24,02 triệu USD).
Việt Nam đang đứng thứ 6 thế giới về tổng đàn lợn, tuy nhiên, vẫn còn nhiều khu vực chăn nuôi nông hộ, chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ và vừa. Ảnh: Hoan Nguyễn
Về xuất khẩu, đối với thịt và sản phẩm từ thịt, khối lượng xuất khẩu duy trì tương đối ổn định. Năm 2024 đạt khoảng 15,6 triệu kg, đến năm 2025 đạt khoảng 15,4 triệu kg.
Đối với động vật sống, khối lượng xuất khẩu có xu hướng giảm mạnh. Năm 2024, số lượng xuất khẩu đạt khoảng 308.579 con, tuy nhiên đến năm 2025 chỉ còn 70.553 con, giảm khoảng 77,14% so với năm trước. Nguyên nhân chủ yếu do biến động thị trường, thay đổi nhu cầu nhập khẩu từ các quốc gia đối tác và yêu cầu kiểm soát dịch bệnh ngày càng chặt chẽ từ phía các thị trường nhập khẩu.
Đối với thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, khối lượng xuất khẩu năm 2024 đạt khoảng 388 triệu kg, đến năm 2025 tăng lên gần 420 triệu kg, tương ứng tăng 8,15% so với năm trước.
Về nhập khẩu, đối với thịt và sản phẩm từ thịt, tổng khối lượng nhập khẩu năm 2024 đạt khoảng 386,7 triệu kg, đến năm 2025 đạt khoảng 361,8 triệu kg, giảm 6,43% so với năm trước.
Đối với động vật sống, nhập khẩu chủ yếu phục vụ mục đích làm giống. Năm 2024, tổng số lượng nhập khẩu đạt khoảng 6,77 triệu con, đến năm 2025 tăng lên 7,54 triệu con, tương ứng tăng 11,42%. Việc nhập khẩu giống vật nuôi chất lượng cao góp phần nâng cao năng suất và chất lượng đàn vật nuôi trong nước.
Đối với thức ăn chăn nuôi và nguyên liệu sản xuất thức ăn chăn nuôi, tổng khối lượng nhập khẩu năm 2024 đạt khoảng 1,26 tỷ kg, đến năm 2025 đạt khoảng 1,29 tỷ kg, tăng 2,02% so với năm trước.
Quy mô ngành chăn nuôi Việt Nam.
Theo ông Nguyễn Xuân Dương, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam, ngành chăn nuôi Việt Nam đang có nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển. Theo đó, hệ thống văn bản pháp luật lĩnh vực chăn nuôi đã được rà soát, sửa đổi, bổ sung, từ đó góp phần đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính và tạo môi trường thuận lợi cho sản xuất, kinh doanh.
Luật Đất đai (sửa đổi) đã từng bước tháo gỡ những vướng mắc trong quy hoạch, bố trí quỹ đất phục vụ phát triển chăn nuôi tập trung, tạo điều kiện hình thành các vùng chăn nuôi hàng hóa quy mô lớn.
Nghị định số 116/2025/NĐ-CP về hỗ trợ khắc phục dịch bệnh động vật đã bổ sung cơ chế hỗ trợ kịp thời cho người chăn nuôi khi xảy ra dịch bệnh, góp phần ổn định sản xuất và khôi phục đàn vật nuôi.
Ngành chăn nuôi Việt Nam có một thị trường nội địa rộng lớn trên 100 triệu dân với khách du lịch quốc tế ngày càng tăng.
Mức đầu tư từ các thành phần kinh tế xã hội cho chăn nuôi ngày một tăng. Ngày càng nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam, doanh nghiệp nước ngoài và các thành phần kinh tế khác đầu tư phát triển chăn nuôi, chế biến sản phẩm chăn nuôi theo mô hình chuỗi từ trang trại đến bàn ăn. Chăn nuôi theo mô hình trang trại, công nghiệp ngày càng tăng, số lượng cơ sở chăn nuôi nông hộ đang giảm dần.
Những tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến cả về con giống và trang thiết bị cho ra những sản phẩm có chất lượng, giá trị cao và có tính cạnh tranh trên thị trường. Đặc biệt, ở Việt Nam đã bắt đầu triển khai các dự án khu liên hợp chăn nuôi; nhiều doanh nghiệp nội đã có những hướng đi mới như chăn nuôi hữu cơ, chăn nuôi theo kinh tế tuần hoàn, chăn nuôi giống bản địa.... Góp phần làm đa dạng sản phẩm chăn nuôi, đồng thời thiết lập dòng sản phẩm theo phân khúc thị trường và tiến tới xuất khẩu nhiều dòng sản phẩm từ chăn nuôi trong tương lai.
Tính chuyên nghiệp chưa cao, giết mổ nhỏ lẻ còn nhiều...
Tuy nhiên, cũng theo ông Dương, dù có nhiều thuận lợi, nhưng ngành chăn nuôi Việt Nam cũng đối mặt với không ít khó khăn, thách thức. Theo đó, chăn nuôi an toàn sinh học và kiểm soát dịch bệnh chưa được triển khai đồng bộ, đặc biệt là khu vực chăn nuôi nông hộ, chăn nuôi trang trại quy mô nhỏ và vừa.
Tính chuyên nghiệp trong chăn nuôi của khu vực nông hộ, trang trại quy mô vừa và nhỏ chưa cải thiện nhiều, giá thành sản xuất còn cao. Quy mô sản xuất vừa và nhỏ nên không thể áp dụng các công nghệ hiện đại vào để tăng năng suất, chất lượng.
Giết mổ tập trung, công nghiệp không cạnh tranh được với giết mổ nhỏ lẻ dẫn đến chênh lệch lớn giữa giá bán của người chăn nuôi và giá người tiêu dùng phải trả; Chưa xây dựng được thương hiệu và thực hiện quảng bá rộng rãi cho sản phẩm chăn nuôi.
Xe máy chở thịt lợn đi tiêu thụ không có thùng bảo vệ, đảm bảo vệ sinh thú y vẫn ngang nhiên chạy trên đường phố Hà Nội. Ảnh: Minh Ngọc
Hệ thống sản xuất thiếu đồng bộ, không liên kết chặt chẽ từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ. Chưa chú trọng đến hoạt động giết mổ tập trung và chế biến công nghiệp, nhất là chế biến sâu làm giảm giá trị gia tăng và tính cạnh tranh của các sản phẩm chăn nuôi trong nước, hạn chế tỷ trọng xuất khẩu.
Phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu đầu vào như con giống chất lượng cao và đặc biệt là nguyên liệu TACN. Trong nước chỉ sản xuất được 35% nguyên liệu (để sản xuất khoảng 20 triệu tấn TACN công nghiệp), còn lại 65% phải nhập khẩu.
Chi phí cho sản xuất chăn nuôi ngày càng tăng do sự gia tăng giá nguyên liệu đầu vào, chi phí an toàn sinh học, kiểm soát dịch bệnh; chi phí ứng phó biến đổi khí hậu.
Để giải quyết bài toán trên, ông Dương cho rằng cần tiếp tục xây dựng và thực hiện hiệu quả thể chế ngành chăn nuôi. Nâng cao hiệu quả quản lý, cải tiến giống vật nuôi, quy hoạch vùng chăn nuôi tập trung, chính sách hỗ trợ.
Chủ động nguồn thức ăn chăn nuôi (chủ động sản xuất); Tổ chức liên kết gắn với thị trường, bảo đảm ATSH và ATTP; Ứng dụng KHCN và khuyến nông trong chăn nuôi (Công nghệ cao, TBKT trong sản xuất giống, chuồng trại, phòng bệnh…)
Tăng cường chế biến gắn với thị trường, chăn nuôi gắn với liên kết chuỗi; Phát triển theo hướng kinh tế tuần hoàn, kinh tế xanh, tích hợp đa giá trị, sản xuất theo chuỗi; Áp dụng công nghệ thông tin, chuyển đổi số trong quản lý chăn nuôi, phòng chống dịch bệnh; Đẩy mạnh hoạt động truyền thông trên các lĩnh vực sản xuất.