 |
|
Xuất khẩu hồ tiêu của Việt Nam tiếp tục tăng trưởng tích cực cả về lượng và kim ngạch trong 6 tháng đầu năm. Ảnh: C.M |
Nguồn cung thu hẹp, chi phí và rào cản gia tăng
Theo bà Hoàng Thị Liên, Chủ tịch Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam, 6 tháng đầu năm 2026, Việt Nam xuất khẩu 145.686 tấn hồ tiêu, đạt kim ngạch 940,5 triệu USD, tăng 17,4% về lượng và tăng 10,6% về giá trị so với cùng kỳ năm 2025.
Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất với 35.362 tấn, chiếm 24,3% tổng lượng xuất khẩu, tăng 28,7% so với cùng kỳ. Trung Quốc đạt 15.244 tấn, chiếm 10,5%, tăng 64%; UAE đạt 9.703 tấn, chiếm 6,7%, tăng 10,9%.
Tuy nhiên, xuất khẩu trong tháng 6 đã giảm 8,2% về lượng và giảm 8,9% về giá trị so với tháng trước, cho thấy đà tăng trưởng bắt đầu chậm lại khi nguồn nguyên liệu trong nước thu hẹp và thị trường xuất hiện tâm lý thận trọng.
Đáng chú ý, sản lượng hồ tiêu Việt Nam năm 2026 ước đạt khoảng 170.000 tấn, giảm 12,8% so với năm 2025 do ảnh hưởng của thời tiết bất lợi, diện tích vườn già cỗi, năng suất suy giảm và sự cạnh tranh của các cây trồng khác.
Trong khi đó, lượng hồ tiêu xuất khẩu trong nửa đầu năm đã tương đương khoảng 86% sản lượng ước tính của cả năm, tạo áp lực lớn lên nguồn cung nguyên liệu cho chế biến, xuất khẩu và nhu cầu dự trữ trong những tháng cuối năm.
Theo bà Hoàng Thị Liên, sản lượng hồ tiêu trong nước tiếp tục giảm do tác động của biến đổi khí hậu, thời tiết bất lợi, nhiều diện tích vườn già cỗi, năng suất suy giảm và xu hướng chuyển đổi sang cây trồng khác. Liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người sản xuất còn thiếu bền vững, chưa hình thành được vùng nguyên liệu ổn định.
Bên cạnh đó, các quy trình kỹ thuật hiện hành theo Quyết định số 730/QĐ-BNN-TT và Quyết định số 3702/QĐ-BNN-TT được ban hành từ giai đoạn 2015-2018 không còn phù hợp với yêu cầu sản xuất và thương mại hiện nay. Các quy định này chưa tích hợp các yêu cầu chống phá rừng của Liên minh Châu Âu (EUDR), truy xuất nguồn gốc, canh tác tái sinh, giảm phát thải, nông nghiệp tuần hoàn cũng như chưa cập nhật các quy định mới về mức dư lượng thuốc bảo vệ thực vật (MRLs).
Việc đầu tư nghiên cứu giống mới có khả năng chống chịu hạn hán và dịch bệnh còn hạn chế, trong khi công tác chuyển giao tiến bộ kỹ thuật giữa các viện nghiên cứu, trường đại học với doanh nghiệp và người dân chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn.
Ngoài khó khăn về nguồn cung, các thị trường nhập khẩu liên tục cập nhật quy định về dư lượng thuốc bảo vệ thực vật, vi sinh, kim loại nặng, truy xuất nguồn gốc, phát thải carbon và yêu cầu phát triển bền vững. Trong khi đó, chất lượng nguyên liệu trong nước chưa đồng đều, việc sử dụng thuốc bảo vệ thực vật và quy trình sơ chế chưa được kiểm soát thống nhất, làm gia tăng nguy cơ bị cảnh báo và trả hàng.
Doanh nghiệp cũng phải gánh chi phí kiểm nghiệm, chứng nhận, truy xuất nguồn gốc và tuân thủ quy định của nước nhập khẩu ngày càng cao. Đồng thời, thủ tục hành chính, thanh tra, kiểm tra và xử lý vi phạm vẫn còn chồng chéo, làm tăng chi phí hoạt động.
Hiệp hội cũng cho biết giá nguyên liệu duy trì ở mức cao trong khi doanh nghiệp khó tiếp cận tín dụng do hạn mức vay thấp, yêu cầu tài sản bảo đảm lớn và thời hạn vay chưa phù hợp với chu kỳ thu mua, dự trữ.
Bên cạnh đó, chi phí logistics trong nước và quốc tế tiếp tục tăng, bao gồm vận tải, lưu kho, lưu container, bảo hiểm và các phụ phí phát sinh, làm giảm khả năng cạnh tranh của hàng hóa xuất khẩu. Đối với sản xuất nông nghiệp, một số thủ tục liên quan đến khai thác nước mặt, cấp phép môi trường và các nghĩa vụ hành chính khác vẫn còn phức tạp, làm phát sinh thêm chi phí cho doanh nghiệp và người sản xuất.
Theo bà Hoàng Thị Liên, các thay đổi về thuế quan, phòng vệ thương mại, kiểm soát xuất xứ và tiêu chuẩn kỹ thuật tại các thị trường lớn diễn ra nhanh chóng, trong khi doanh nghiệp thiếu thông tin cập nhật và công cụ hỗ trợ. Tình trạng giả mạo đối tác, chậm thanh toán, từ chối nhận hàng và tranh chấp thương mại tiếp tục gia tăng, đặc biệt đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ chưa có nhiều kinh nghiệm trong quản trị rủi ro.
Kiến nghị hoàn thiện chính sách, thúc đẩy chuyển đổi xanh
Từ thực tế trên, Hiệp hội Hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam kiến nghị rà soát, đồng bộ thời hạn các giấy phép chuyên ngành với thời hạn hoạt động của dự án đầu tư hoặc thời hạn thuê đất, nhất là đối với các dự án hoạt động ổn định và tuân thủ đầy đủ quy định pháp luật.
Đồng thời, nghiên cứu kéo dài thời hạn hiệu lực của các giấy phép môi trường, phòng cháy chữa cháy và các giấy phép chuyên ngành khác lên 10 năm hoặc tương ứng với thời hạn của dự án trong trường hợp không có thay đổi về quy mô, công nghệ hoặc mức độ tác động. Đối với trường hợp gia hạn, cần đơn giản hóa thủ tục theo hướng chỉ cập nhật, rà soát điều kiện duy trì thay vì yêu cầu doanh nghiệp thực hiện hồ sơ và quy trình tương đương cấp mới nhằm giảm chi phí tuân thủ, hạn chế thủ tục hành chính và tạo điều kiện cho doanh nghiệp đầu tư, sản xuất kinh doanh ổn định, lâu dài.
Để góp phần thực hiện mục tiêu tăng trưởng xuất khẩu nông, lâm, thủy sản 2 con số trong năm 2026 và nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành hồ tiêu và cây gia vị Việt Nam, Hiệp hội kiến nghị sớm sửa đổi, thay thế Quyết định số 730/QĐ-BNN-TT và Quyết định số 3702/QĐ-BNN-TT theo hướng tích hợp các yêu cầu về Quy định của Liên minh châu Âu về các sản phẩm không gây mất rừng - EUDR, truy xuất nguồn gốc, canh tác tái sinh, nông nghiệp tuần hoàn, giảm phát thải...
Hiệp hội cũng đề xuất hỗ trợ tái canh, nghiên cứu giống mới, phát triển vùng nguyên liệu bền vững, tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp, hợp tác xã và người nông dân để giữ vững năng lực sản xuất và thị phần; xây dựng hệ thống cảnh báo sớm về rào cản kỹ thuật và cập nhật thường xuyên các quy định mới của thị trường nhập khẩu.
Bên cạnh đó, cần tăng cường đầu tư cho nghiên cứu khoa học, đổi mới công nghệ và chuyển đổi số; xây dựng các chương trình nghiên cứu trọng điểm quốc gia về hồ tiêu và gia vị, tập trung vào giống, công nghệ sau thu hoạch, chế biến sâu và thích ứng với biến đổi khí hậu...