Đối với lĩnh vực nông nghiệp, thực trạng hiện nay đang như thế nào? Chúng tôi đã có cuộc trao đổi với ông Phạm Quang Diệu, Tư vấn trưởng của Viện Chính sách và Chiến lược PTNNNT. Ths Phạm Quang Diệu vừa chủ trì nhóm nghiên cứu thực hiện đề tài “Nghiên cứu về những tác động của WTO đối với nông nghiệp Việt Nam”.
Xin ông cho biết những nội dung chính được nhóm nghiên cứu thực hiện trong đề tài “Đánh giá tác động của WTO đối với nông nghiệp Việt Nam”
Nghiên cứu của chúng tôi nhằm đánh giá một cách tổng quát về những tác động của WTO đối với sản xuất nông nghiệp ở Việt Nam. Từ đó, nghiên cứu chỉ ra thực trạng, đánh giá tình hình chung và đưa ra những hướng giải pháp để khắc phục những tồn tại, yếu kém hiện nay. Mục tiêu quan trọng nhất là góp phần thúc đẩy sự hội nhập và phát triển của nông nghiệp Việt Nam trên sân chơi toàn cầu…
* Do việc cắt giảm thuế đột ngột và thiếu hàng rào kỹ thuật đã khiến thịt nhập khẩu ồ ạt tràn vào VN trong năm 2009 làm ảnh hưởng đến sản xuất trong nước, theo ông đây có phải là một ví dụ cho thấy việc chuẩn bị quá trình hội nhập của chúng ta chưa tốt?
- Năm 2007, 2008 VN đã thực hiện cắt giảm thuế suất thuế nhập khẩu thịt cao hơn cả mức cam kết và nhanh hơn mức cam kết theo lộ trình, cho dù trước đó khi đàm phán VN đã nỗ lực để nâng được mức thuế suất lên cao hơn cho nhóm mặt hàng này nhằm bảo hộ ngành chăn nuôi trong nước.
Có thể giải thích điều này vì chúng ta phải bảo đảm nguồn cung thịt và thực phẩm cho nhu cầu tiêu dùng trong nước, được dự đoán sẽ bị ảnh hưởng nặng nề bởi đợt rét đậm, rét hại cuối năm 2007 và đầu năm 2008 cũng như kiềm chế lạm phát.
Tuy nhiên, ngay sau khi thuế nhập khẩu giảm, lượng nhập khẩu các sản phẩm thịt gia cầm của VN đã tăng mạnh và gây áp lực mạnh lên ngành chăn nuôi trong nước, trong đó chủ yếu là các hộ gia đình, trang trại chăn nuôi gia cầm ở khu vực nông thôn.
Chỉ đến khi báo chí lên tiếng thì cơ quan chức năng mới vội vàng điều chỉnh thuế. Hậu quả của chính sách này là nhiều người nuôi gà phá sản, trong khi người tiêu dùng phải sử dụng thịt đông lạnh kém chất lượng. Qua sự việc này cho thấy các cơ quan nhà nước khá lúng túng trong hội nhập, cả về chính sách điều chỉnh thuế lẫn xây dựng các hàng rào kỹ thuật.
* Ở một số lĩnh vực khác mà sản xuất trong nước cũng có thế mạnh như quần áo, giày dép, thực phẩm... hàng ngoại được nhập về ồ ạt và chúng ta chỉ “giật mình” khi có thông tin quần áo nhiễm chất độc hại?
- Đây là một thực tế cho thấy VN vẫn chưa chuẩn bị tốt nhất cho quá trình hội nhập. Trong những năm qua, hàng xuất khẩu của VN luôn bị tác động bởi các hàng rào phi thuế của các nước, nhưng ngược lại ở trong nước chúng ta có quá ít tiêu chuẩn kỹ thuật để hạn chế nhập khẩu và kiểm soát chất lượng hàng nhập vào VN.
Tôi nghĩ khi gia nhập WTO, nhiều người tiêu dùng kỳ vọng sẽ có cơ hội được tiếp cận và sử dụng nhiều mặt hàng giá rẻ hơn, nhưng điều đó không có nghĩa là chất lượng hàng không thể kiểm soát được. Chính vì vậy, việc rà soát và xây dựng các hàng rào kỹ thuật đối với nhiều ngành hàng hiện nay là hết sức cần thiết, nhằm bảo vệ người tiêu dùng đồng thời bảo vệ nền sản xuất trong nước.
* Gia nhập WTO cũng đồng nghĩa với việc thị trường xuất khẩu được rộng mở. Nhìn ở góc độ các mặt hàng nông sản xuất khẩu, ông nhận xét như thế nào về việc tận dụng cơ hội này?
- Chưa có bằng chứng cho thấy tăng trưởng xuất khẩu trong các năm qua là do chúng ta tận dụng được những ưu đãi mà việc gia nhập WTO đem lại. Xuất khẩu nông sản tăng trong năm 2008 chủ yếu do sốt giá. Năm 2009 nhiều doanh nghiệp có thêm các thị trường mới là do chịu áp lực bán hàng nhiều hơn là tận dụng cơ hội giảm thuế hay mở cửa của các thị trường.
Hiện nay, các doanh nghiệp vẫn làm theo quán tính, chưa tận dụng được cơ hội từ WTO đem lại. Lý do vì họ thiếu thông tin. Thời gian qua Chính phủ cũng như báo chí thường đưa thông tin cam kết của VN với nước ngoài nhưng không đưa các cam kết của các nước khác với VN.
Chúng tôi đã tiếp xúc với một số doanh nghiệp xuất khẩu chè sang Trung Đông. Họ nói nếu biết là theo cam kết WTO, các thị trường này giảm thuế nhập khẩu hàng từ VN thì họ đã đưa vào trong việc thương thuyết hợp đồng. Điều đó cho thấy thông tin đến với doanh nghiệp vẫn còn rất nhiều hạn chế.
Trong cuộc họp đánh giá ba năm VN gia nhập WTO mới đây, Bộ trưởng Bộ Công thương Vũ Huy Hoàng cho biết chỉ 20% doanh nghiệp tận dụng được lợi thế về thuế quan, xuất xứ hàng hóa.
* Theo lộ trình, thời gian tới VN sẽ tiếp tục mở cửa thị trường bán lẻ, theo ông ngành nông sản trong nước sẽ bị ảnh hưởng như thế nào khi các nhà phân phối nước ngoài bước vào lĩnh vực này?
- Khi gia nhập WTO, người ta hi vọng việc giảm thuế sẽ làm giảm giá một số sản phẩm, đặc biệt là thực phẩm. Tuy nhiên, người tiêu dùng VN vẫn phải chịu một mức giá cao trong thời gian qua. Thể hiện rõ nhất là việc giảm thuế ngành sữa và các sản phẩm từ sữa.
Các thị trường như New Zealand, Hoa Kỳ, Úc, Hà Lan đã tận dụng được cơ hội cắt giảm thuế quan của VN theo cam kết để tăng giá trị xuất khẩu của họ vào thị trường VN, nhưng ngược lại giá bán trong nước vẫn liên tục bị đẩy lên cao.
Điều đáng lo ngại là khi mở cửa cho các hệ thống bán lẻ thì họ sẽ nhanh chóng chiếm lĩnh ngành hàng này do tiềm lực tài chính mạnh mẽ và kỹ năng quản lý cao. Kết hợp với việc giảm thuế nhập khẩu, các nhà bán lẻ sẽ đưa nông sản từ bên ngoài vào thay vì lựa chọn hàng trong nước nếu thấy lợi hơn.
Còn ngay tại các siêu thị VN hiện tại, nông sản trong nước cũng quá khó để chen chân vào. Nếu không nhanh chóng đổi mới phương thức sản xuất, nâng cao chất lượng và xây dựng thương hiệu thì khi các nhà bán lẻ nước ngoài đã đủ mạnh, nông sản VN sẽ mất chỗ đứng ngay chính sân nhà mình.
* Xin cảm ơn ông.
AGROINFO