Nguồn: danviet.vn
Nguồn cưng xăng dầu khan hiếm, đẩy giá phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc BVTV tăng
Theo Bộ NNMT, xung đột tại Trung Đông xảy ra, làm đứt gãy chuỗi cung ứng, tăng giá dịch vụ vận tải, tăng chi phí sản xuất, chi phí hàng hóa, các chi phí kinh doanh khác, gây sức ép lạm phát, dẫn đến xu hướng chuyển dịch chuỗi sản xuất, luồng thương mại quốc tế…
Theo đó, giá dầu tăng, làm tăng chi phí vận chuyển hàng hóa và giá vật tư nông nghiệp, đặc biệt phân bón, giá dầu đối với tàu cá khai thác trên biển, với phương tiện thu hoạch, vận chuyển hàng hóa nông sản (trong khi hiện nay tại Đồng bằng sông Cửu Long đang bắt đầu thu hoạch vụ lúa Đông - Xuân). Dự báo sơ bộ, chi phí sản xuất nông nghiệp tăng khoảng 3 - 5%, làm tăng giá nông sản thực phẩm, nguy cơ tăng chỉ số giá tiêu dùng CPI. Trong đó:
Về phân bón: Hàng năm, trong sản xuất nông nghiệp sử dụng khoảng 10 triệu tấn phân bón cho ngành trồng trọt. Đối với phân urê và phân lân, Việt Nam cơ bản tự chủ được nguồn nguyên liệu đầu vào, có thể cung ứng đủ cho sản xuất trồng trọt, không phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu, do vậy, ít chịu tác động trực tiếp từ xung đột Trung Đông. Tuy nhiên, với một số loại phân bón khác ta không chủ động được nguyên liệu, giá phân bón thị trường trong nước chịu tác động trực tiếp từ giá thế giới, hiện giá trên toàn cầu đã tăng và có thể tiếp tục tăng 5-15%.

Xung đột tại Trung Đông đã đẩy giá phân bón, thức ăn chăn nuôi, thuốc BVTV tăng cao. Trong ảnh là công nhân làm việc tại Nhà máy Đạm Phú Mỹ. Ảnh: danviet.vn
Về thức ăn chăn nuôi: Thị trường có xu hướng tăng giá, chủ yếu đối với cám gia cầm, cám lợn, thức ăn đậm đặc (tăng khoảng 1,5-2%, mức tăng từ 150-300 đồng/kg). Nguyên nhân chủ yếu do chi phí nguyên liệu nhập khẩu và vận tải quốc tế tăng trong khi Việt Nam phụ thuộc lớn vào nguồn nguyên liệu nhập khẩu như ngô, khô đậu tương, lúa mì. Dự báo trong ngắn hạn sẽ tiếp tục xu hướng tăng nếu xung đột tiếp tục kéo dài và chăn nuôi trong nước phục hồi.
Về thuốc bảo vệ thực vật: Không chịu tác động trực tiếp vì nguồn nhập khẩu chủ yếu từ Trung Quốc, hiện nay giá thành trong nước chưa tăng. Tuy nhiên, nếu xung đột tiếp tục kéo dài, giá năng lượng tác động làm tăng chi phí chung của nhà sản xuất sẽ dẫn đến giá tăng và nguy cơ “thiếu cục bộ”.
Chi phí logistics và xuất khẩu nông, lâm, thủy sản: Theo thông tin của một số hiệp hội ngành hàng, doanh nghiệp, hợp tác xã, cước vận tải biển đã tăng 25 - 35%, thời gian vận chuyển kéo dài thêm 7 - 14 ngày do tàu phải tránh khu vực rủi ro, làm giảm sức cạnh tranh của một số mặt hàng xuất khẩu (gỗ, thủy sản, nông sản). Cụ thể:
Tăng nguy cơ rủi ro cho ngành hàng tươi sống: Ngành thủy sản: Doanh nghiệp đang gặp khó khăn, thậm chí tạm thời không thể vận chuyển hàng. Một số doanh nghiệp đã tạm dừng xuất khẩu sang Trung Đông do rủi ro vận tải và thiếu chuyến tàu (sản phẩm cá tra). Tuy nhiên, nhu cầu thực phẩm vẫn cao, các đơn hàng không bị hủy. Xuất khẩu sang một số thị trường chính tại Mỹ, Nhật Bản, Bắc Âu và Tây Âu chưa chịu tác động trực tiếp lớn ngoài yếu tố tăng cước vận tải;
Ngành rau quả: Nhiều đơn hàng đã đóng container và hạ cảng tại TP.Hồ Chí Minh đang phải nằm chờ do lịch tàu thay đổi hoặc các hàng tàu tạm ngưng đặt chỗ đến khu vực Trung Đông. Thời gian trên biển kéo dài làm tăng nguy cơ suy giảm chất lượng trái cây, buộc doanh nghiệp phải tăng chi phí bảo quản lạnh hoặc có nguy cơ bị khách hàng từ chối do sản phẩm không đạt yêu cầu.

Hiện, một số doanh nghiệp đã tạm dừng xuất khẩu sang Trung Đông do rủi ro vận tải và thiếu chuyến tàu (sản phẩm cá tra). Ảnh: danviet.vn
Xuất khẩu một số ngành hàng có tỷ trọng xuất khẩu vào Trung Đông cao bị đình trệ: Ngành điều (chiếm khoảng 11% kim ngạch xuất khẩu ngành điều), nếu kịch bản ngừng xuất khẩu hoàn toàn xảy ra trong một thời gian dài sẽ gây áp lực lên tồn kho, dòng tiền doanh nghiệp và giá thu mua nguyên liệu trong nước, ngoài ra còn tác động gián tiếp đến xuất khẩu hạt điều sang Châu Âu và Châu Phi do gián đoạn tuyến vận tải biển qua Biển Đỏ - kênh đào Suez;
Ngành hồ tiêu (chiếm khoảng 10% kim ngạch xuất khẩu ngành hồ tiêu), bên cạnh việc chịu tác động trực tiếp tại Trung Đông, việc xuất khẩu sang châu Âu và Bắc Phi chịu tác động gián tiếp do chủ yếu phụ thuộc tuyến vận tải Biển Đỏ - kênh đào Suez, chi phí logistics sẽ tăng lên.
Theo Bộ NNMT, tác động trực tiếp đến tăng trưởng ngành thông qua thị trường Trung Đông là hạn chế về mặt quy mô; nhưng, tác động gián tiếp thông qua việc làm gia tăng rủi ro đứt gãy chuỗi cung ứng, chi phí năng lượng và vận tải quốc tế, ảnh hưởng đến tuyến đường xuất khẩu NLTS sang Trung Đông và xuất khẩu sang các thị trường Bắc và Trung Phi, Nam Âu, Trung Âu, Tây Âu, và Bắc Âu.
Bên cạnh những khó khăn trên, đây cũng là cơ hội để Hiệp hội, doanh nghiệp, hợp tác xã và bà con nông dân tái cấu trúc lại ngành hàng theo hướng nâng cao chất lượng, thương hiệu; mở cửa các thị trường mới trong đó ưu tiên tập trung vào thị trường Halal. Đồng thời, sẵn sàng chuẩn bị các điều kiện để đẩy mạnh sản xuất ngay khi có tín hiệu ổn định địa chính trị và thị trường có dấu hiệu bình thường trở lại.
Nghiên cứu giảm thuế nhập khẩu về 0% các loại phân bón, nguyên liệu sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.
Bộ NNMT cho hay, 3 kịch bản chủ yếu được nghiên cứu, đề xuất (xung đột kéo dài khoảng 1 tháng; xung đột kéo dài khoảng 3 tháng; xung đột kéo dài khoảng 1 năm): Tổng kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản bị giảm tương ứng với từng kịch bản (do xuất khẩu sang Trung Đông, châu Âu và Bắc Phi giảm).
Hiện nay, Bộ Tài chính (Cục Thống kê) đang xây dựng kịch bản đánh giá ảnh hưởng cuộc chiến tranh cho toàn nền kinh tế. Khi có hệ số mới này thì sẽ lượng hóa cụ thể tác động của xung đột tới tăng trưởng GDP của ngành Nông nghiệp và Môi trường.
Về giải pháp ứng phó, Bộ NNMT cho biết, các nhiệm vụ, giải pháp cấp bách, trước mắt, bao gồm: Ổn định nguồn cung và giá phân bón, xăng dầu để duy trì sản xuất, giảm chi phí đầu vào. Triển khai mua dự trữ lúa gạo theo quy định khi giá xuống thấp.
Thiết lập đường dây nóng để chung sức đồng lòng, tiếp nhận thông tin về khó khăn, vướng mắc của các hợp tác xã, doanh nghiệp, hội, hiệp hội và người dân; đề xuất, kiến nghị cơ chế, chính sách tháo gỡ nhanh chóng, kịp thời.
Theo dõi sát diễn biến chiến sự và rủi ro logistics quốc tế: Tăng cường cập nhật thông tin về tình hình an ninh hàng hải tại khu vực Vùng Vịnh, Biển Đỏ và kênh đào Suez; đánh giá kịp thời tác động đến chi phí vận tải, bảo hiểm và thời gian giao hàng. Thiết lập cơ chế cảnh báo sớm cho doanh nghiệp về rủi ro vận chuyển và thanh toán.
Triển khai các biện pháp hỗ trợ doanh nghiệp có hợp đồng bị đình trệ hoặc chậm thanh toán, bao gồm giãn nợ, cơ cấu lại thời hạn trả nợ, hỗ trợ lưu kho, bảo quản hàng hóa (đặc biệt đối với thủy sản và rau quả). Tăng cường vai trò của hệ thống Thương vụ Việt Nam tại các nước Trung Đông trong việc kết nối, xử lý tranh chấp thương mại.
Đẩy mạnh xúc tiến thương mại và đa dạng hóa thị trường: Tăng cường hoạt động xúc tiến thương mại tại các thị trường thay thế tiềm năng như Đông Á, Nam Á, EU, châu Phi và châu Mỹ Latinh. Tận dụng hiệu quả các FTA đã ký kết để mở rộng thị phần. Hỗ trợ doanh nghiệp tham gia hội chợ, kết nối giao thương trực tuyến và phát triển thương mại điện tử xuyên biên giới.
Phối hợp với hiệp hội ngành hàng (điều, cà phê, hồ tiêu, thủy sản, lúa gạo, rau quả…) cập nhật tình hình đơn hàng, tồn kho, giá cả và đề xuất giải pháp linh hoạt tháo gỡ khó khăn theo từng ngành.
Rà soát, đề xuất các chính sách, trong đó, giảm lãi suất cho vay ngắn hạn đối với doanh nghiệp xuất khẩu nông sản sang thị trường Trung Đông; mở rộng hạn mức tín dụng lưu động để duy trì dòng tiền trong giai đoạn thị trường biến động. Hỗ trợ doanh nghiệp tiếp cận bảo hiểm tín dụng xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro thanh toán. Hỗ trợ cấp tín dụng tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhập khẩu các nguyên liệu sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật, nguyên liệu phục vụ sản xuất trong nước.
Nghiên cứu giảm thuế nhập khẩu về 0% các loại phân bón, nguyên liệu sản xuất phân bón, thuốc bảo vệ thực vật.
Về các nhiệm vụ, giải pháp chung, dài hạn, Bộ NNMT cho hay, cần nâng cao nhận thức, xác định quyết tâm chính trị mạnh mẽ, quyết liệt lãnh đạo, chỉ đạo, tạo xung lực mới trong toàn Ngành để đạt mục tiêu tăng trưởng; Hoàn thiện cơ chế, chính sách; thực hiện đồng bộ, hiệu quả các nghị quyết, chiến lược, chương trình, đề án, quy hoạch, kế hoạch phát triển ngành;
Tiếp tục đẩy mạnh thực hiện cơ cấu lại ngành, nâng cao năng suất, chất lượng, giá trị gia tăng sản phẩm và hiệu quả sản xuất, kinh doanh nông lâm nghiệp và thủy sản; Đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính phục vụ người dân, doanh nghiệp; Tăng cường chuyển đổi số; thực hiện đột phá trong ứng dụng, chuyển giao khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo;
Thúc đẩy phát triển thị trường trong nước và xuất khẩu; Thúc đẩy mạnh mẽ các ngành, lĩnh vực hỗ trợ sản xuất nông, lâm, thủy sản; Đẩy mạnh truyền thông phát triển nông nghiệp và bảo vệ môi trường.