Kết nối nghiên cứu với thực tiễn
cho một nền NÔNG NGHIỆP tăng trưởng toàn diện
Trung Quốc: Xuất khẩu chè tăng cả lượng và giá trong 2 tháng đầu năm 2026
06 | 04 | 2026
Trong hai tháng đầu năm 2026, hoạt động thương mại chè của Trung Quốc ghi nhận tín hiệu tích cực khi cả lượng, kim ngạch và giá xuất khẩu đều tăng. Chè xanh tiếp tục giữ vai trò chủ lực, trong khi các dòng sản phẩm đặc thù như chè đen (phổ nhĩ), chè hoa ghi nhận tốc độ tăng trưởng ấn tượng. Ở chiều nhập khẩu, khối lượng giảm nhẹ nhưng kim ngạch vẫn tăng, giá bình quân nhích lên; chè đen vẫn là mặt hàng nhập khẩu chủ đạo.

Nguồn: sohu.com

Xuất khẩu tăng trưởng đồng loạt

Theo số liệu từ Hải quan Trung Quốc, trong tháng 01-02/2026, nước này xuất khẩu 68,2 nghìn tấn chè, đạt kim ngạch khoảng 267 triệu USD, tăng lần lượt 3,5% về lượng và 16,4% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu bình quân đạt 3,92 USD/kg, tăng 12,5%.

越南茶叶出口量约达近1.2万吨创汇2090万美元

 

Xét theo chủng loại, phần lớn các mặt hàng chè đều ghi nhận tăng trưởng về sản lượng xuất khẩu. Cụ thể, chè xanh đạt 60,22 nghìn tấn; chè ô long 2,01 nghìn tấn; chè hoa 1,61 nghìn tấn; chè đen (phổ nhĩ) 0,34 nghìn tấn; chè trắng 0,08 nghìn tấn, đều tăng so với cùng kỳ, trong đó chè đen có mức tăng mạnh nhất, khoảng 61,3%. Ngược lại, chè đen (hồng trà) đạt 3,95 nghìn tấn, giảm 13,4%.

Về thị trường, 10 quốc gia và vùng lãnh thổ nhập khẩu chè lớn nhất của Trung Quốc gồm Maroc, Uzbekistan, Mauritania, Bờ Biển Ngà, Senegal, Nga, Đức, Ghana, Hoa Kỳ và Mali. Đáng chú ý, xuất khẩu sang Bờ Biển Ngà tăng mạnh nhất, với sản lượng đạt 3,52 nghìn tấn (tăng 79,1%) và kim ngạch 15,68 triệu USD (tăng 101,9%). Ngược lại, thị trường Ghana ghi nhận mức giảm sâu nhất, với lượng và giá trị xuất khẩu giảm lần lượt 51,5% và 51,7%.

Về địa phương, các tỉnh, thành dẫn đầu xuất khẩu chè gồm Chiết Giang, An Huy, Hồ Nam, Hồ Bắc, Phúc Kiến, Giang Tây, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Thiểm Tây và Thượng Hải. Trong đó, Thiểm Tây có mức tăng trưởng cao nhất, với lượng xuất khẩu đạt 0,67 nghìn tấn (tăng 259,9%) và kim ngạch 2,94 triệu USD (tăng 380,7%). Ngược lại, Hồ Nam giảm mạnh nhất về lượng (giảm 16,2%), còn Phúc Kiến giảm mạnh nhất về kim ngạch (giảm 10,6%).

 

Nhập khẩu: lượng giảm, giá tăng

Ở chiều ngược lại, trong 2 tháng đầu năm 2026, Trung Quốc nhập khẩu 7,08 nghìn tấn chè, với kim ngạch khoảng 22,69 triệu USD, giảm 5,4% về lượng nhưng tăng 1,1% về giá trị so với cùng kỳ năm trước. Giá nhập khẩu bình quân đạt 3,21 USD/kg, tăng 6,9%.

浙江茶叶出口形势喜人瞄准品牌与多元拓出海路径

Theo chủng loại, chè đen (6.214 tấn), chè trắng (0,14 tấn) và chè đen (phổ nhĩ: 0,09 tấn) có xu hướng tăng về lượng nhập khẩu, trong đó chè đen tăng mạnh nhất (tăng hơn 2.100%). Ngược lại, chè xanh (755,6 tấn), chè ô long (108,64 tấn) và chè hoa (0,42 tấn) đều giảm, trong đó chè hoa giảm mạnh nhất tới 98,7%.

Về nguồn cung, 10 quốc gia xuất khẩu chè lớn nhất vào Trung Quốc gồm Ấn Độ, Việt Nam, Sri Lanka, Kenya, Thái Lan, Uganda, Burundi, Indonesia, Tanzania và Malawi. Đáng chú ý, nhập khẩu từ Tanzania tăng mạnh nhất, với lượng đạt 123,18 tấn (tăng 515,9%) và kim ngạch 169,5 nghìn USD (tăng 562,9%). Trong khi đó, nhập khẩu từ Kenya giảm sâu nhất, với lượng và giá trị giảm lần lượt 58,5% và 37,6%.

 

Theo địa phương, các tỉnh, thành nhập khẩu chè lớn nhất gồm Quảng Tây, Phúc Kiến, Chiết Giang, Quảng Đông, Vân Nam, Thượng Hải, Bắc Kinh, Sơn Đông, Quý Châu và Giang Tô. Trong đó, Sơn Đông ghi nhận mức tăng mạnh nhất, với lượng nhập khẩu đạt 240,94 tấn (tăng 190,2%) và kim ngạch 1,01 triệu USD (tăng 369,1%). Ngược lại, Giang Tô giảm mạnh nhất, với lượng và giá trị nhập khẩu giảm lần lượt 62,6% và 13,5%.



Báo cáo phân tích thị trường