Nguồn: nhachannuoi.vn
Tại cuộc họp ngày 28/7 với sự tham dự của hơn 500 doanh nghiệp cùng các Hiệp hội ngành hàng, nhiều kiến nghị đã được đưa ra nhằm thống nhất hướng dẫn thực thi, tháo gỡ vướng mắc và bảo đảm các quy định mới được áp dụng đồng bộ, hiệu quả.

Toàn cảnh cuộc họp (Ảnh: HHTĂCNVN)
Quy định mới mở ra giai đoạn chuyển đổi trong quản lý chất lượng sản phẩm
Việc Bộ Khoa học và Công nghệ ban hành Thông tư số 14/2026/TT-BKHCN hướng dẫn công bố hợp quy, cùng với Thông tư số 27/2026/TT-BNNMT của Bộ NN&MT quy định danh mục sản phẩm, hàng hóa theo mức độ rủi ro, được cộng đồng doanh nghiệp đánh giá là bước thay đổi quan trọng trong phương thức quản lý chất lượng sản phẩm TĂCN và thuốc thú y.
Theo các quy định mới, TĂCN và thuốc thú y được xếp vào nhóm sản phẩm có mức độ rủi ro trung bình. Cách tiếp cận này thể hiện định hướng chuyển mạnh từ cơ chế tiền kiểm sang hậu kiểm, tăng quyền chủ động nhưng cũng đồng thời nâng cao trách nhiệm của doanh nghiệp trong việc tự công bố tiêu chuẩn áp dụng, tự đánh giá sự phù hợp hoặc thực hiện chứng nhận thông qua các tổ chức được công nhận năng lực.
Phát biểu khai mạc cuộc họp, TS. Nguyễn Xuân Dương – Phó Chủ tịch Thường trực Hiệp hội TĂCN Việt Nam, Chủ tịch Hội Chăn nuôi Việt Nam cho rằng, điều quan trọng nhất không chỉ nằm ở việc ban hành thêm một Thông tư mới, mà là sự thay đổi về tư duy quản lý sau khi Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật cùng Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi.
Theo ông, doanh nghiệp cần hiểu đúng bản chất của sự thay đổi này để tránh cách tiếp cận máy móc khi triển khai các quy định mới. Nếu chỉ nhìn vào từng điều khoản riêng lẻ mà không đặt trong tổng thể hệ thống pháp luật sẽ rất dễ dẫn đến những cách hiểu khác nhau, làm phát sinh thêm thủ tục và chi phí không cần thiết.
TS. Nguyễn Xuân Dương cũng nhấn mạnh, đặc thù của ngành TĂCN và thuốc thú y khác biệt đáng kể so với nhiều lĩnh vực sản xuất khác. Một doanh nghiệp có thể sở hữu từ vài trăm đến hàng nghìn mã sản phẩm, thường xuyên thay đổi công thức theo nguồn nguyên liệu, từng giai đoạn sinh trưởng của vật nuôi và nhu cầu thị trường. Vì vậy, nếu áp dụng nguyên mẫu cơ chế quản lý của các ngành có số lượng sản phẩm ít sẽ rất khó bảo đảm tính khả thi.
Theo ông, mục tiêu của các Hiệp hội không phải là đề nghị bãi bỏ công tác quản lý nhà nước hay nới lỏng các yêu cầu về chất lượng sản phẩm. Điều cộng đồng doanh nghiệp mong muốn là xây dựng cơ chế quản lý phù hợp với đặc thù của ngành, vừa bảo đảm chất lượng sản phẩm, đáp ứng yêu cầu hội nhập, vừa hạn chế các thủ tục hành chính không còn cần thiết.
Tại cuộc họp, TS. Nguyễn Thị Hương – Chủ tịch Hội Thú y Việt Nam cho biết, số lượng đại biểu tham dự đông đảo cho thấy các Hiệp hội và cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm đến các quy định mới về công bố hợp chuẩn, hợp quy đối với TĂCN và thuốc thú y. Theo bà, đây là tín hiệu tích cực, thể hiện sự quan tâm của doanh nghiệp đối với việc hoàn thiện các quy định pháp lý theo hướng minh bạch, dễ hiểu và tạo điều kiện thuận lợi hơn cho hoạt động sản xuất, kinh doanh.
TS. Nguyễn Thị Hương cho biết, trong quá trình thực hiện các thủ tục liên quan đến đăng ký lưu hành sản phẩm trước đây, doanh nghiệp đã gặp không ít khó khăn và vướng mắc. Nhiều vấn đề đã được cơ quan quản lý hướng dẫn, tháo gỡ trong quá trình thực hiện, tuy nhiên vẫn còn những nội dung cần tiếp tục được làm rõ.
Doanh nghiệp kiến nghị sớm thống nhất hướng dẫn thực thi các quy định mới
Theo TS. Ninh Thị Len – Phó Chủ tịch Hiệp hội TĂCN Việt Nam, việc Thông tư số 27/2026/TT-BNNMT của Bộ NN&MT và Thông tư số 14/2026/TT-BKHCN của Bộ Khoa học và Công nghệ có hiệu lực từ ngày 01/7/2026 đã tạo bước chuyển quan trọng trong quản lý chất lượng TĂCN và thuốc thú y theo hướng giảm tiền kiểm, tăng cường hậu kiểm và quản lý theo mức độ rủi ro. Theo đó, doanh nghiệp được chủ động hơn trong việc tự công bố tiêu chuẩn áp dụng, tự đánh giá sự phù hợp hoặc thuê tổ chức chứng nhận để thực hiện chứng nhận hợp quy. Tuy nhiên, quá trình triển khai vẫn phát sinh nhiều vướng mắc do một số quy định chưa được hướng dẫn thống nhất.
Tại cuộc họp, nội dung được doanh nghiệp quan tâm nhất là việc áp dụng Phương thức 5 và Phương thức 7 trong hoạt động tự đánh giá sự phù hợp. Theo doanh nghiệp, Thông tư 14 quy định đây là các phương thức chứng nhận dành cho tổ chức chứng nhận, trong khi Thông tư 27 lại dẫn chiếu áp dụng đối với hoạt động công bố hợp quy của doanh nghiệp. Sự chưa thống nhất này khiến doanh nghiệp lúng túng trong việc lựa chọn phương thức đánh giá, đặc biệt với các sản phẩm sản xuất theo đơn đặt hàng hoặc thường xuyên điều chỉnh công thức.
Bên cạnh đó, quy định về lấy mẫu đại diện cũng cần được làm rõ. Mặc dù, Thông tư 14 cho phép lấy mẫu theo loại hoặc nhóm sản phẩm trong một số trường hợp, hệ thống quy chuẩn kỹ thuật hiện hành của ngành TĂCN vẫn quy định mỗi mã sản phẩm phải lấy một mẫu điển hình. Điều này khiến doanh nghiệp chưa xác định được có được lấy mẫu đại diện khi tự đánh giá hay vẫn phải thử nghiệm riêng từng sản phẩm. Đối với hàng nhập khẩu, doanh nghiệp cũng đề nghị hướng dẫn cụ thể việc các lô hàng sau công bố hợp quy lần đầu có phải tiếp tục thử nghiệm từng lô hay không.
Ngoài ra, doanh nghiệp kiến nghị sớm hướng dẫn thống nhất nhiều nội dung khác như: sự khác biệt giữa “đánh giá sự phù hợp” và “chứng nhận sự phù hợp”; hiệu lực của kết quả tự đánh giá và giấy chứng nhận hợp quy; quy trình giám sát định kỳ; điều kiện hoạt động của tổ chức chứng nhận và phòng thử nghiệm được công nhận; việc sử dụng kết quả thử nghiệm của phòng thử nghiệm nội bộ; quy trình công bố hợp quy điện tử; quy định sử dụng dấu hợp quy (CR) đối với sản phẩm công bố trên cơ sở tự đánh giá; cũng như cơ chế xử lý đối với các lô hàng nhập khẩu không đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật và trách nhiệm của các bên liên quan.
Theo Hiệp hội TĂCN Việt Nam, đây đều là những vấn đề tác động trực tiếp đến hoạt động sản xuất, nhập khẩu và lưu thông sản phẩm. Việc sớm ban hành hướng dẫn thống nhất không chỉ giúp doanh nghiệp thực hiện đúng quy định, giảm chi phí tuân thủ và hạn chế rủi ro pháp lý, mà còn tạo điều kiện để cơ chế quản lý mới theo hướng hậu kiểm phát huy hiệu quả, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành TĂCN và thuốc thú y.
Điều doanh nghiệp cần là cách hiểu thống nhất để thực hiện đúng quy định
Tại cuộc họp, TS. Ninh Thị Len cho biết, những vấn đề doanh nghiệp phản ánh không xuất phát từ việc phản đối các quy định mới, mà chủ yếu liên quan đến cách hiểu và cách áp dụng trong thực tiễn.
Theo bà, việc Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật cùng Luật Chất lượng sản phẩm, hàng hóa được sửa đổi đã mở ra cách tiếp cận mới trong quản lý chất lượng theo hướng quản lý rủi ro, tăng cường hậu kiểm và đề cao trách nhiệm của doanh nghiệp. Đây là xu hướng phù hợp với thông lệ quốc tế và được cộng đồng doanh nghiệp đồng tình ủng hộ. Tuy nhiên, khi triển khai đối với lĩnh vực TĂCN và thuốc thú y, ngành có số lượng sản phẩm rất lớn và đặc thù sản xuất khác biệt thì cần có hướng dẫn cụ thể để bảo đảm các quy định được hiểu và thực hiện thống nhất.
Theo đại diện Hiệp hội, trong thời gian qua Hiệp hội đã tiếp nhận nhiều ý kiến từ các doanh nghiệp hội viên liên quan đến việc áp dụng Thông tư số 14/2026/TT-BKHCN và Thông tư số 27/2026/TT-BNNMT. Các nội dung được phản ánh tập trung vào việc xác định phương thức đánh giá sự phù hợp, phạm vi áp dụng phương thức 5 và phương thức 7, nguyên tắc lấy mẫu đại diện, sử dụng kết quả thử nghiệm, hiệu lực giấy chứng nhận hợp quy và quy trình công bố hợp quy đối với doanh nghiệp có nhiều dòng sản phẩm.
Bà Ninh Thị Len cho rằng, nếu những nội dung này không được hướng dẫn thống nhất ngay từ đầu, mỗi địa phương hoặc mỗi tổ chức đánh giá có thể áp dụng theo một cách khác nhau. Điều đó không chỉ làm gia tăng chi phí tuân thủ cho doanh nghiệp mà còn ảnh hưởng đến mục tiêu cải cách thủ tục hành chính và tạo thuận lợi cho hoạt động sản xuất, kinh doanh mà các văn bản mới đang hướng tới.
Đồng quan điểm, TS. Nguyễn Xuân Dương nhấn mạnh, cộng đồng doanh nghiệp không kiến nghị giảm yêu cầu quản lý chất lượng hay nới lỏng các quy định về an toàn sản phẩm. Điều doanh nghiệp mong muốn là có một cơ chế thực thi rõ ràng, minh bạch và phù hợp với đặc thù của ngành TĂCN, nơi mỗi doanh nghiệp có thể sở hữu hàng trăm, thậm chí hàng nghìn mã sản phẩm với công thức được điều chỉnh linh hoạt theo từng giai đoạn sản xuất và nhu cầu thị trường.
Ông cho rằng, khi các quy định được hướng dẫn đầy đủ và thống nhất, doanh nghiệp sẽ mạnh dạn đầu tư vào hệ thống quản lý chất lượng, chủ động thực hiện trách nhiệm tự đánh giá sự phù hợp theo đúng tinh thần của các luật sửa đổi. Về phía cơ quan quản lý, việc chuyển mạnh sang hậu kiểm cũng sẽ phát huy hiệu quả hơn nhờ tập trung nguồn lực vào giám sát chất lượng sản phẩm lưu thông trên thị trường thay vì xử lý các thủ tục hành chính mang tính hình thức.
Khép lại cuộc họp, đại diện Hiệp hội TĂCN Việt Nam cho biết sẽ tổng hợp đầy đủ các ý kiến của doanh nghiệp, chuyên gia và các Hội ngành hàng để xây dựng báo cáo kiến nghị gửi Bộ NN&MT cùng Bộ Khoa học và Công nghệ. Mục tiêu là sớm hoàn thiện hệ thống hướng dẫn triển khai, bảo đảm các quy định mới được áp dụng thống nhất trên phạm vi cả nước, vừa nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, vừa tạo môi trường pháp lý ổn định, minh bạch và thuận lợi cho doanh nghiệp phát triển.