Kết nối nghiên cứu với thực tiễn
cho một nền NÔNG NGHIỆP tăng trưởng toàn diện
Rừng gỗ lớn mở hướng kinh tế các-bon thấp
12 | 08 | 2026
Gia Lai xác định đẩy mạnh trồng rừng gỗ lớn gắn với phát triển kinh tế rừng và tín chỉ các-bon nhằm tạo sinh kế bền vững cho người dân
Nguồn: nongnghiepmoitruong.vn
 
 
Tăng trưởng diện tích rừng gỗ lớn
 
Hiện Gia Lai đã xây dựng đề án phát triển cây gỗ lớn giai đoạn 2026-2030 dự kiến đạt gần 20.200 ha, đây là nhiệm vụ trọng tâm của các công ty lâm nghiệp trên địa bàn.
 
Riêng Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn (xã Vĩnh Thạnh, Gia Lai) trong những năm qua đã tập trung chuyển dịch từ trồng rừng chu kỳ ngắn sang trồng rừng gỗ lớn chu kỳ dài từ 10-12 năm. Tính đến năm 2025, diện tích rừng trồng gỗ lớn tập trung của Công ty Lâm nghiệp Sông Kôn đạt gần 826 ha; năng suất rừng trồng gỗ lớn tăng trưởng bình quân trên 25m³/ha/năm.
 
Theo ông Hồ Văn Hể, Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn, rừng gỗ lớn của đơn vị áp dụng quy trình kỹ thuật theo tiêu chuẩn chứng chỉ rừng bền vững với mật độ trồng hợp lý, thực hiện tỉa thưa 1-2 lần/chu kỳ, tỉa cành để thân  gỗ thẳng và dài nhằm tạo ra gỗ lớn chất lượng cao. Đặc biệt, rừng gỗ lớn của công ty được sử dụng giống chất lượng cao, canh tác thâm canh, tỉa thưa đúng quy  trình; từng bước cơ giới hóa làm đất và chăm sóc, góp phần giảm chi phí và  tăng năng suất lao động; nhờ đó, rừng trồng gỗ lớn của Công ty Lâm nghiệp Sông Kôn đáp ứng  tiêu chuẩn nguyên liệu chế biến sâu và chế biến xuất khẩu.
 
“Theo khuyến cáo của ngành chức năng thì mật độ trồng rừng gỗ lớn chỉ khoảng 1.300 cây/ha, nhưng đối với khu vực đông Gia Lai phải cần trồng 2.000 cây/ha, hao hụt qua thời gian, đến khi thu hoạch chỉ còn 1.300-1.600 cây. Riêng rừng của công ty khi được 6 năm tuổi, cán bộ kỹ thuật đo tính mức độ tăng trưởng thì năng suất đạt 120 tấn/ha, bước qua năm thứ 7 đã đạt 155 tấn/ha, chỉ 1 năm mà tăng thêm 35 tấn/ha; khi rừng được 8 năm tuổi thì tăng trưởng thêm 25 tấn/ha nữa, năng suất đạt 180 tấn/ha. Hiệu quả của rừng gỗ lớn là rất rõ rệt”, ông Nguyễn Ngọc Đạo, Chủ tịch Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn chia sẻ.
 
Rừng gỗ lớn tăng trữ lượng các-bon
 
Thời gian qua, các hoạt động khảo sát, xác minh và thẩm định giảm phát thải ở Gia Lai đã được triển khai với sự tham gia của nhiều tổ chức quốc tế, đơn vị tư vấn và cơ quan chuyên môn. Đồng thời, nhiều doanh nghiệp trong nước cũng đang đề xuất thực hiện các dự án tín chỉ các-bon, tiến hành khảo sát, thu thập dữ liệu và xây dựng hồ sơ dự án như Công ty Asean, Ecotree... Điều này cho thấy thị trường tín chỉ các-bon đang từng bước hình thành và thu hút sự quan tâm mạnh mẽ của các nhà đầu tư, tạo cơ hội lớn để Gia Lai phát triển kinh tế rừng theo hướng đa giá trị.
 
Bên cạnh đó, nhu cầu thị trường đối với gỗ có chứng chỉ bền vững và các sản phẩm lâm nghiệp thân thiện môi trường ngày càng tăng, mở ra cơ hội nâng cao giá trị sản xuất lâm nghiệp.
 
Ông Hoan khẳng định thêm: Sự phát triển của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ số trong quản lý tài nguyên rừng cũng tạo điều kiện thuận lợi cho việc xây dựng và triển khai các dự án liên quan đến tín chỉ các-bon.
 
Ông Nguyễn Văn Tỉnh, Giám đốc Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn cho biết: Từ sự hỗ trợ của dự án “Nhân rộng quản lý rừng bền vững và chứng chỉ rừng tại Việt Nam” do Chính phủ Đức tài trợ thông qua Tổ chức hợp tác phát triển Đức (GIZ) phối hợp cùng Bộ Nông nghiệp và Môi trường thực hiện, cùng với Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn, Công ty TNHH Lâm nghiệp Quy Nhơn đã tiến hành đánh giá tiềm năng gia tăng hấp thụ và lưu trữ các-bon khi chuyển đổi từ mô hình trồng rừng sản xuất sinh khối sang mô hình trồng rừng gỗ lớn.
 
Việc đo đạc trữ lượng các-bon ở các rừng trồng keo theo nhiều độ tuổi, áp dụng phương pháp “quản lý rừng cải tiến” (IFM) theo chuẩn mực VM0003 của tổ chức Verra-một trong những bộ tiêu chuẩn quốc tế có uy tín trong lĩnh vực tín chỉ các-bon tự nguyện (VCS).
 
Ông Nguyễn Ngọc Đạo, Chủ tịch Công ty TNHH Lâm nghiệp Sông Kôn, cho hay: Phương pháp này đánh giá khả năng gia tăng hấp thụ các-bon nhờ kéo dài chu kỳ khai thác. Cụ thể, phương pháp này đã được sử dụng để đánh giá tác động của việc chuyển đổi rừng trồng keo ngắn hạn 5 năm sang chu kỳ 11 năm phục vụ sản xuất gỗ lớn. Kết quả cho thấy tiềm năng giảm phát thải đáng kể của mô hình ở các diện tích rừng đồng nhất và quy mô lớn.
 
“Các biện pháp kỹ thuật lâm sinh kết hợp với việc kéo dài chu kỳ có thể làm tăng trữ lượng các-bon lên 221 tấn CO₂/ha đối với chu kỳ 11 năm, trong khi rừng trồng chu kỳ 5 năm trữ lượng các-bon chỉ đạt 78 tấn CO₂/ha”, ông Đạo chia sẻ.

 



Báo cáo phân tích thị trường