Theo số liệu tổng hợp, 3 tháng đầu năm 2026, xuất khẩu nhóm hàng thủy sản đạt trên 2,64 tỷ USD, tăng 14,41% so với cùng kỳ năm 2025. Tuy nhiên, tăng trưởng này chủ yếu đến từ sự bứt phá mạnh của thị trường Trung Quốc, trong khi các thị trường truyền thống như Mỹ, Nhật Bản và Hàn Quốc đều tăng trưởng chậm hoặc sụt giảm.
Tại thị trường Nhật Bản, nếu như tháng 1/2026, xuất khẩu thủy sản sang nước này vẫn đạt kết quả tích cực, kim ngạch ước khoảng 100 triệu USD, tăng gần 20% so với cùng kỳ thì sang tháng 2 và tháng 3, tốc độ tăng trưởng chậm lại đáng kể. Tính chung 3 tháng đầu năm, xuất khẩu sang thị trường Nhật Bản đạt gần 365,37 triệu USD, tăng 1,8% so với cùng kỳ năm 2025 và chiếm tỷ trọng 13,82% toàn ngành.
Xét về cơ cấu sản phẩm, tôm vẫn là mặt hàng xuất khẩu chủ lực sang Nhật Bản, chiếm trên 30% tổng kim ngạch. Trong tháng 2/2026, xuất khẩu tôm sang Nhật Bản đạt khoảng 25,5 triệu USD. Tuy nhiên, mức giảm tới gần 49% so với tháng trước và hơn 27% so với cùng kỳ năm trước.

Xuất khẩu mực và bạch tuộc sang thị trường Nhật Bản những tháng đầu năm ít khả quan. Ảnh: ST
Các mặt hàng khác như cá hồi, mực và bạch tuộc cũng không nằm ngoài xu hướng chung. Cá hồi đạt 9,5 triệu USD, giảm hơn 40% so với tháng 1/2026; mực và bạch tuộc đạt 9,1 triệu USD, giảm trên 42%. Nhìn chung, tất cả các nhóm sản phẩm chính đều ghi nhận mức giảm sâu cả về giá trị và sản lượng.
Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến sụt giảm xuất khẩu là tình hình kinh tế Nhật Bản đang có dấu hiệu chững lại. Các chỉ số sản xuất và tiêu dùng đều giảm trong những tháng đầu năm 2026, trong đó tiêu dùng hộ gia đình giảm liên tiếp, ảnh hưởng trực tiếp đến nhu cầu nhập khẩu thực phẩm, bao gồm thủy sản.
Bên cạnh đó, nguồn cung nội địa của Nhật Bản cũng có những thay đổi đáng chú ý. Sản lượng một số loài thủy sản như mực đã phục hồi sau nhiều năm suy giảm, dù chưa đạt mức cao như trước đây. Điều này phần nào làm giảm nhu cầu nhập khẩu, đồng thời gia tăng cạnh tranh trong phân khúc sản phẩm tương đồng.
Ngoài ra, Việt Nam còn phải đối mặt với sự cạnh tranh ngày càng gay gắt từ các quốc gia xuất khẩu thủy sản khác như Thái Lan, Ấn Độ hay Indonesia. Những nước này không chỉ có lợi thế về giá mà còn đang cải thiện mạnh về chất lượng và tiêu chuẩn sản phẩm.
Nhật Bản được biết đến là thị trường có tiêu chuẩn nhập khẩu nghiêm ngặt hàng đầu thế giới. Các yêu cầu về dư lượng kháng sinh, an toàn thực phẩm, quy trình chế biến và truy xuất nguồn gốc luôn được kiểm soát chặt chẽ. Điều này tạo ra rào cản lớn đối với nhiều doanh nghiệp Việt Nam, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa. Tuy nhiên, ở chiều ngược lại, đây cũng là cơ hội để các doanh nghiệp có năng lực nâng cao chất lượng, xây dựng thương hiệu và tham gia sâu hơn vào chuỗi cung ứng giá trị cao.
Thực tế cho thấy, thị trường Nhật Bản hiện vẫn chưa có sự chi phối của một số ít doanh nghiệp lớn từ Việt Nam. Tỷ trọng xuất khẩu của nhóm 5 doanh nghiệp lớn nhất chỉ chiếm khoảng 2 – 3,6% mỗi doanh nghiệp, cho thấy thị trường còn khá phân tán và dư địa vẫn còn rộng.
Dù đối mặt với nhiều khó khăn trong ngắn hạn, triển vọng dài hạn của xuất khẩu thủy sản sang Nhật Bản vẫn được đánh giá tích cực. Đây là thị trường có mức tiêu thụ thủy sản cao, đặc biệt ưa chuộng các sản phẩm chế biến sẵn, phục vụ trực tiếp cho nhu cầu ăn liền như sushi, sashimi. Điều này mở ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp Việt Nam nếu chú trọng vào chế biến sâu, cải tiến công nghệ và nâng cao chất lượng sản phẩm. Bên cạnh đó, các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam tham gia cũng đang tạo lợi thế nhất định về thuế quan, giúp hàng thủy sản Việt Nam duy trì sức cạnh tranh tại thị trường này.
Các chuyên gia cho rằng, ngành thủy sản cần có những điều chỉnh phù hợp để duy trì và mở rộng thị phần tại Nhật Bản. Trong đó, việc đa dạng hóa sản phẩm, giảm phụ thuộc vào tôm, đồng thời phát triển các dòng sản phẩm chế biến sâu là hướng đi cần thiết. Đồng thời, doanh nghiệp cũng cần chú trọng hơn đến việc đáp ứng tiêu chuẩn kỹ thuật, nâng cao khả năng truy xuất nguồn gốc và xây dựng chuỗi cung ứng bền vững. Đây không chỉ là yêu cầu của thị trường Nhật Bản mà còn là xu hướng chung của các thị trường nhập khẩu lớn trên thế giới.
Nguồn: Bảo Hân - Thuysanvietnam.com.vn