Nguồn: english.ratopati.com
Điều đó có nghĩa mỗi năm thế giới cần hơn 5 tỷ tấn lương thực, thực phẩm. Theo số liệu của FAO, sản lượng lương thực, thực phẩm toàn cầu hiện đạt khoảng 10 tỷ tấn/năm, bao gồm ngũ cốc, rau quả, trái cây và sản phẩm chăn nuôi. Tuy nhiên, chỉ khoảng 30% lượng thực phẩm sản xuất ra được con người sử dụng trực tiếp. Khoảng 30% được dùng làm thức ăn chăn nuôi, 30% bị thất thoát trong quá trình chế biến, cung ứng và tiêu dùng, còn khoảng 10% được dùng để sản xuất nhiên liệu sinh học.
Tình hình tại Nam Á

Châu Á chiếm khoảng 40% sản lượng lương thực, thực phẩm của thế giới. Trong đó, riêng Trung Quốc chiếm 25%, còn Nam Á chỉ đóng góp khoảng 12%. Tuy nhiên, khu vực Nam Á lại chiếm khoảng 25% dân số toàn cầu. Vì vậy, tình trạng thiếu lương thực và dinh dưỡng vẫn là vấn đề lớn tại khu vực này.
Theo WHO, khoảng 42% dân số Nam Á chưa được bảo đảm dinh dưỡng đầy đủ. Trong số đó, khoảng 20% người dân chỉ có một bữa ăn mỗi ngày.
Tình hình tại Nepal

Nepal hiện sản xuất khoảng 16-18 triệu tấn lương thực, thực phẩm mỗi năm. Con số này bao gồm 11,5 triệu tấn ngũ cốc, khoảng 4,5 triệu tấn rau, 1,5 triệu tấn trái cây và 450.000 tấn cá, thịt.
Lượng thực phẩm này tạo ra trung bình khoảng 60 tỷ calo năng lượng mỗi ngày. Trong khi đó, dân số Nepal cần khoảng 66 tỷ calo mỗi ngày. Như vậy, theo số liệu của FAO, Nepal đang thiếu hụt khoảng 6 tỷ calo mỗi ngày.
Thiếu hụt lương thực, đặc biệt là ngũ cốc, đang tăng qua từng năm. Theo số liệu FAO công bố tháng 12/2025, nhập khẩu ngũ cốc của Nepal trong năm 2026 dự kiến phải tăng 20% so với năm trước. Cụ thể, Nepal cần nhập khoảng 900.000 tấn gạo, 550.000 tấn ngô và 225.000 tấn lúa mì trong năm 2026.
Để bảo đảm đủ lương thực cho người dân, sản xuất nông nghiệp của Nepal hiện cần tăng thêm khoảng 20%. Trong các yếu tố cần thiết để tăng sản lượng, phân bón và giống cây trồng được xem là hai yếu tố quan trọng hàng đầu.
Số liệu cho thấy việc sử dụng phân bón hóa học đã giúp sản lượng lương thực của Nepal tăng hơn 50%. Trong thập niên 1960-1970, khi phân bón hóa học chưa được sử dụng rộng rãi, năng suất ngũ cốc chỉ đạt khoảng 2 tấn/ha, với tổng sản lượng khoảng 6,3 triệu tấn. Đến năm 2023, năng suất tăng lên 3,5 tấn/ha, đưa sản lượng ngũ cốc hằng năm lên 11,5 triệu tấn. Nhờ sử dụng phân bón hóa học, sản lượng lương thực tăng thêm khoảng 4,8 triệu tấn. Theo FAO, sản lượng lương thực trong giai đoạn này đã tăng 77%.
Hiện Nepal vẫn phải nhập khẩu phân bón hóa học. Do thời gian nhập khẩu kéo dài và giá mua thường tăng trong quá trình đấu thầu, nông dân không được cung ứng phân bón đúng thời điểm cần thiết. Trước các khó khăn trong mua sắm phân bón, cả trong nước lẫn quốc tế, Chính phủ Nepal đã nhiều lần tính đến phương án xây dựng nhà máy sản xuất phân bón hóa học trong nước.
Theo số liệu năm 2024 và 2025, Nepal đã chi khoảng 200 triệu USD để mua phân bón hóa học. Một số thông tin cũng cho biết các quan chức trong bộ đã báo cáo với Bộ trưởng Nông nghiệp mới rằng Nepal cần khoảng 50 tỷ rupee để bảo đảm nguồn phân bón.
Dù có ý kiến cho rằng khoản ngân sách này có thể được dùng để xây dựng nhà máy phân bón trong nước, việc này trên thực tế không hề đơn giản. Trong các loại phân bón hóa học, phân đạm, hay urê, là loại quan trọng nhất vì cung cấp chất dinh dưỡng chủ yếu cho cây trồng.
Theo nguyên lý khoa học cơ bản, để sản xuất urê cần có amoniac; để sản xuất amoniac cần có khí hydro. Hydro có thể được tạo ra bằng nhiều cách, như đốt khí sinh học, điện phân nước hoặc đốt than. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, Nepal gần như khó có thể dựa vào khí đốt và than.
Sản xuất hydro bằng phương pháp điện phân nước có vẻ phù hợp với Nepal do nước này có tiềm năng thủy điện. Tuy nhiên, để sản xuất 1 kg hydro cần tới 55 kW điện mỗi giờ. Về mặt khoa học, 1 kg hydro có thể sản xuất khoảng 10 kg urê. Như vậy, để sản xuất 500.000 tấn urê, mức nhu cầu hiện nay của Nepal, nước này cần khoảng 50.000 tấn hydro. Điều này đòi hỏi khoảng 2,5 triệu kW điện mỗi giờ, một phương án chưa khả thi với Nepal trong tương lai gần.
Trong bối cảnh đó, câu hỏi đặt ra là: liệu Nepal có thể tự sản xuất phân bón hay không?
Câu trả lời là có. Và vẫn có một giải pháp khả thi hơn.
Giải pháp đó là sản xuất hydro từ rác thải sinh hoạt trong nước, sau đó dùng hydro để sản xuất urê. Rác thải đô thị thường chứa chất hữu cơ và nhựa. Theo các nghiên cứu khoa học, nếu đốt rác ở nhiệt độ 1.000–1.500 độ C trong điều kiện hạn chế oxy, có thể chuyển rác thành khí tổng hợp, còn gọi là syngas. Từ syngas, có thể tách hydro. Quá trình này được gọi là khí hóa. Tuy nhiên, đây là công nghệ phức tạp, không đơn giản.
Trên thế giới đã có nhiều nghiên cứu về công nghệ này. Một nghiên cứu mới được công bố trên tạp chí Science Direct tháng 3/2026 cho biết tỉnh Hồ Bắc của Trung Quốc đã bắt đầu sản xuất hydro bằng công nghệ khí hóa rác. Các nhà nghiên cứu Trung Quốc ước tính dự án này có thể sản xuất hơn 350.000 tấn hydro vào năm 2035.
Tại Hàn Quốc, Hyundai Motor cũng đang triển khai mục tiêu sản xuất 30.000 tấn hydro mỗi năm.
Theo Cơ quan Bảo vệ Môi trường Mỹ, hiện thế giới có 117 nhà máy khí hóa đang hoạt động. Trong số này, 36% sản xuất nhiên liệu, 19% sản xuất điện và 43% sản xuất các loại hóa chất khác. Một số dự án thí điểm cũng đã được triển khai tại châu Âu. Theo các nhà nghiên cứu, để sản xuất 1 kg hydro cần khoảng 35–50 kg rác thải.
Rác thải của Kathmandu có thể trở thành nguồn nguyên liệu

Số liệu cho thấy 18 chính quyền địa phương trong thung lũng Kathmandu thải ra hơn 1.200 tấn rác mỗi ngày. Từ lượng rác này, có thể sản xuất ít nhất 20 tấn hydro mỗi ngày. Lượng hydro đó có thể dùng để sản xuất khoảng 200 tấn urê mỗi ngày.
Một số công ty phương Tây cũng quan tâm đến việc đầu tư trực tiếp nước ngoài vào các dự án sản xuất hydro từ rác thải. Các doanh nghiệp này sẵn sàng đầu tư 90% tổng vốn dự án và muốn 10% còn lại do đối tác địa phương góp vốn. Họ đặc biệt quan tâm đến các nước đang phát triển, nơi vấn đề rác thải nghiêm trọng hơn và nhu cầu xử lý môi trường rất lớn.
Một số chuyên gia công nghệ cao gốc Nepal đang sinh sống tại Mỹ cũng đang nỗ lực đưa các doanh nghiệp này vào Nepal. Theo cộng đồng người Nepal tại Mỹ, các nhà đầu tư mong Chính phủ Nepal bảo đảm an toàn cho nhà máy. Họ tỏ ra thận trọng hơn sau các vụ bất ổn xảy ra tại Nepal trong năm ngoái.
Nếu Chính phủ Nepal bảo đảm an ninh cho nhà máy và tạo môi trường thuận lợi cho đầu tư, các nhà đầu tư sẵn sàng chia 10% lợi nhuận cho Chính phủ Nepal. Theo ước tính, để vận hành một nhà máy như vậy cần ít nhất 50 tấn rác mỗi ngày.
Việc xây dựng một nhà máy có khả năng xử lý 1.000 tấn rác mỗi ngày cần khoảng 65 triệu USD. Các nhà đầu tư cho biết nếu đối tác địa phương góp 10%, tương đương 6,5 triệu USD, họ sẽ đầu tư phần còn lại. Nói cách khác, phía Nepal cần góp khoảng 1 tỷ rupee.
Nguồn vốn 1 tỷ rupee này cũng có thể huy động theo cách khá đơn giản. Theo Tổng điều tra dân số quốc gia năm 2078 theo lịch Nepal, thung lũng Kathmandu có hơn 437.000 hộ gia đình. Hiện mỗi hộ trả khoảng 400 rupee mỗi tháng cho dịch vụ thu gom rác. Tính đơn giản, số tiền thu được mỗi tháng vào khoảng 175 triệu rupee. Nếu thu trước phí của một năm, có thể huy động hơn 2 tỷ rupee.
Với mô hình này, nhà máy chỉ cần khoảng 1 ha đất để vận hành. Chính phủ không cần phải tìm đất tại các địa phương xa xôi hoặc lấy đất của người dân yếu thế. Theo các chuyên gia Nepal tại Mỹ, việc thu gom và vận chuyển rác có thể được tổ chức một cách bài bản, đồng bộ.
Nếu triển khai thành công, mô hình này có thể giải quyết cùng lúc hai vấn đề lớn: xử lý rác thải đô thị và thiếu phân bón hóa học. Người dân tạo ra rác thải, trường học, chợ đầu mối như Kalimati, bệnh viện và các tổ chức công cộng cũng có thể trở thành cổ đông của nhà máy thông qua phần vốn góp 10% từ phía địa phương. Khi đó, Chính phủ Nepal sẽ không phải bỏ ngân sách trực tiếp.
Nếu các địa phương khác trong cả nước học hỏi kinh nghiệm từ Kathmandu, Nepal có thể từng bước giảm phụ thuộc vào Chính phủ liên bang trong cung ứng phân bón hóa học. Trong bối cảnh chính trị hiện nay và kỳ vọng lớn của người dân, nếu chính phủ thể hiện quyết tâm, một nhà máy phân bón hoàn toàn có thể được xây dựng trong thời gian tới.