Kết nối nghiên cứu với thực tiễn
cho một nền NÔNG NGHIỆP tăng trưởng toàn diện
Cá tra: Cần chiến lược tổng thể để vượt qua ngưỡng cản
22 | 11 | 2010
Theo báo cáo mới nhất từ AGROINFO (Báo cáo thủy sản quý 3/2010: Rào cản nội tại), hoạt động chế biến – xuất khẩu thủy sản Việt Nam nhiều khả năng sẽ phải đối mặt với tình hình sụt giảm xuất khẩu ngay trong thời kỳ thị trường xuất khẩu phục hồi, mà nguyên nhân then chốt đến từ chính rào cản nội tại: thiếu nguyên liệu chế biến.

Vấn đề thiếu nguyên liệu chế biến đang là vấn đề phổ biến đối với hầu hết các phân khúc sản phẩm thủy sản của Việt Nam, bao gồm cả những sản phẩm xuất khẩu chủ lực: tôm sú và cá tra. Đi sâu vào bức tranh hoạt động chế biến – xuất khẩu cá tra, người ta có thể thấy hầu hết những vấn đề nhức nhối của ngành chế biến – xuất khẩu thủy sản Việt Nam.

Thiếu hụt chiến lược phát triển tổng thể

Gốc rễ của mọi vấn đề xuất phát từ sự thiếu hụt một chiến lược phát triển sản phẩm chủ lực. Nhìn sang Thái Lan - đối thủ cạnh tranh của thủy sản Việt Nam trên hầu hết các thị trường xuất khẩu chính, sự khác biệt lớn giữa ngành thủy sản Việt Nam và Thái Lan là việc Thái Lan đã bắt đầu một chiến lược hết sức bài bản đối với hai dòng sản phẩm thủy sản: tôm thẻ chân trắng và cá ngừ, từ những năm giữa thập niên 90 của thế kỷ trước.

Xét phân khúc sản phẩm tôm thẻ chân trắng, từ những bước phát triển của thủy sản Thái Lan trên thị trường thế giới, chiến lược phát triển sản phẩm chủ lực này được phân chia rõ ràng thành 3 giai đoạn chính: (1) Thâm nhập và mở rộng thị phần đến mức tối đa trên thị trường thế giới bằng các sản phẩm có hàm lượng chế biến thấp nhưng được bù đắp khả năng cạnh tranh bằng chiến lược giá; (2) Tập trung vào nghiên cứu, phát triển các dòng sản phẩm xuất khẩu có hàm lượng chế biến cao dần để chiếm lĩnh các phân khúc thị trường mang lại lợi suất cao hơn, đồng thời chấp nhận nhường lại các phân khúc thị trường trước đây cho các đối thủ cạnh tranh mới bước vào thị trường, hoặc sở hữu dòng sản phẩm có lợi thế cao hơn; và (3) Thâu tóm các nhãn hiệu thủy sản có uy tín để thâm nhập sâu vào chuỗi phân phối thủy sản toàn cầu.
Nhìn lại bước phát triển của mặt hàng cá tra Việt Nam, có thể nói, nếu Việt Nam đi theo mô hình phát triển sản phẩm chủ lực của Thái Lan, cá tra đang ở cuối giai đoạn 1 và cần một cú huých để bắt đầu chuyển hướng sang giai đoạn 2.

Sau gần một thập kỷ được nuôi trồng, chế biến và xuất khẩu theo hướng hàng hóa, cá tra đã có bước tiến ngoạn mục, không chỉ trong bức tranh thủy sản xuất khẩu Việt Nam, mà đáng kể hơn, là vị thế trên thị trường thủy sản thế giới. Với vị thế nội địa, chỉ từ sản lượng nuôi trồng dưới 100 ngàn tấn vào năm 2000 – 2001, sản lượng cá tra nuôi trồng đã đạt 1 triệu tấn vào năm 2009 và trở thành đối tượng cá nuôi chủ lực cho chế biến xuất khẩu. Các sản phẩm cá tra xuất khẩu chỉ chiếm 0,5% trong cơ cấu sản lượng thủy sản xuất khẩu năm 2001, đã tăng vọt lên chiếm hơn 50% vào năm 2009. Trên thị trường thế giới, cá tra Việt Nam đang nắm giữ vị thế gần như độc quyền và có mặt trên 133 thị trường. Tại các thị trường tiêu dùng thủy sản lớn như Mỹ, EU, Nga, cá tra Việt Nam chiếm thị phần đến 70 – 80% trong phân khúc sản phẩm này. Các chuyên gia thủy sản thế giới đều nhất trí về nguyên nhân thành công của dòng sản phẩm này: mùi vị trung tính, ít tanh, thớ thịt mịn, dễ kết hợp với những phong cách nấu ăn khác nhau và giá cả rẻ.

Tuy nhiên, đến thời điểm này, mặt hàng cá tra xuất khẩu Việt Nam đã đạt đến ngưỡng cản và nếu tiếp tục sử dụng chiến lược giá cạnh tranh để chiếm lĩnh thị trường thế giới, thay vì chuyển hướng sang một giai đoạn phát triển khác, chính hoạt động nuôi trồng – chế biến – xuất khẩu nội địa sẽ bị tổn hại.



Giá thu mua cá tra nguyên liệu đã duy trì ở mức thấp trong một thời gian dài, trong khi đó giá nguyên liệu đầu vào cho hoạt động nguôi trồng như giá con giống, thức ăn chăn nuôi tăng giá mạnh, đã dần dần xói mòn động lực sản xuất của nông dân. Cho đến hết quý 3/2010, người nuôi thả cá tra vẫn dè dặt khi thấy giá thu mua dù tăng, nhưng vẫn không mang lại lợi nhuận cao cho họ bằng các loại thủy sản khác. Tình trạng này dẫn đến nguy cơ sụt giảm xuất khẩu cá tra cục bộ trong tương lai gần.

Mặt khác, trên thị trường thế giới, vai trò của cá tra, như nguồn bổ sung cho nguồn cung sụt giảm các loại cá thịt trắng, đang ngày càng lớn và quan trọng hơn, người tiêu dùng thế giới ngày càng yêu thích mặt hàng này. Trên thị trường Mỹ, Đức, Nga, cá tra đều nằm trong danh sách các loại thủy sản được tiêu dùng nhiều nhất. Người tiêu dùng tại các thị trường lớn như Anh, Tây Ban Nha, Pháp đều ưa chuộng dòng sản phẩm này. Điều này đã tạo nên sự đối nghịch giữa một bên cầu ngày càng lớn và một bên là cung có nguy cơ sụt giảm vì chính những vấn đề nội tại của nguồn cung.

Xuất khẩu cá tra, cùng với mặt hàng tôm sú và tôm cỡ lớn, đang đặt ra vấn đề cấp bách cho ngành thủy sản Việt Nam, cần có một kế hoạch chiến lược tổng thể và bài bản đối với nhóm sản phẩm mà Việt Nam đã giành được thế mạnh trên thị trường thế giới này.

Những động thái mới từ VASEP có là đủ?

Mới đây, VASEP đã đề nghị 4 giải pháp đối với sản xuất cá tra; trong đó, giải pháp quy định giá sàn cho cá tra được xem là giải pháp căn cơ cho các vấn đề của ngành cá tra Việt Nam. Theo một chuỗi suy luận thông thường, quy định giá sàn theo điều kiện hiện nay sẽ giúp thúc đẩy người nông dân nuôi trồng trở lại, ổn định sản lượng xuất khẩu cá tra trong tương lai gần; qua đó, duy trì được vị thế hiện tại của cá tra Việt Nam trên thị trường thế giới.

Tuy nhiên, quy định giá sàn là chưa đủ để giải quyết vấn đề của ngành cá tra trong dài hạn khi mà vấn đề then chốt là mối ràng buộc lợi ích kinh tế trong chuỗi giá trị ngành hàng cá tra nói riêng, thủy sản nói chung, giữa người nông dân và doanh nghiệp còn hết sức lỏng lẻo. Mặt khác, quy định giá sàn không có giá trị đảm bảo lợi nhuận sản xuất của người nông dân, mà biện pháp này chỉ có tác dụng cao nhất trong việc bảo vệ họ trước những biến động bất thường của thị trường. Điều này cho thấy, về dài hạn, để phát triển bền vững lợi ích kinh tế của ngành hàng cá tra nói riêng, thủy sản nói chung, Việt Nam cần có một chiến lược tổng thể, dài hơi hơn.

Những vấn đề then chốt trong xây dựng chiến lược phát triển tổng thể

Trong ngành cá tra nói riêng, thủy sản Việt Nam nói chung, vấn đề then chốt đầu tiên cần quan tâm là xác định sản phẩm phát triển chủ lực. Cá tra phile đông lạnh, cùng với tôm sú bóc vỏ đông lạnh, tôm cỡ lớn đông lạnh, đã giành được những vị thế nhất định trên thị trường thế giới và nhu cầu đối với các mặt hàng này vẫn được dự báo tăng trong thời gian tới. Trên cơ sở này, cần xác định cá tra và tôm sú, tôm cỡ lớn là những sản phẩm chủ lực của ngành thủy sản trên thị trường thế giới; từ đó, xây dựng chiến lược phát triển tổng thể dựa trên các dòng sản phẩm có lợi thế cạnh tranh cao.

Thứ hai, cần phân kỳ giai đoạn phát triển cụ thể và quan trọng hơn, xác định thời điểm chuyển hướng trong từng giai đoạn phát triển. Trong thương trường, vấn đề thời điểm đóng vai trò quan trọng để giúp duy trì và phát triển vị thế dài hạn. Cụ thể với vấn đề của ngành cá tra Việt Nam, các mắt xích trong chuỗi giá trị ngành hàng cần đồng thuận rằng đây chính là thời điểm quyết định để chuyển hướng phát triển sang một giai đoạn cao hơn; trong đó, giá bán tăng cùng với giá trị gia tăng trong sản phẩm, đi đôi với chiến lược phân khúc thị trường mới. Đồng thời, đây cũng là điều kiện để nâng cao toàn chuỗi giá trị ngành hàng, vực dậy hoạt động sản xuất đang đình trệ và tăng trưởng xuất khẩu trong dài hạn.

Thứ ba, vấn đề nâng cao chuỗi giá trị ngành hàng cần tập trung vào xây dựng mối quan hệ lợi ích kinh tế giữa các mắt xích – điều kiện tiên quyết cho sự phát triển bền vững toàn chuỗi. Nếu so sánh chuỗi ngành hàng cá tra với một con tàu vượt đại dương chở hàng xuất khẩu đi khắp thế giới, doanh nghiệp sẽ đóng vai trò như thuyền trưởng, có trách nhiệm chính trong việc điều tiết luồng tài chính và định hướng phát triển thị trường cho toàn bộ chuỗi. Sự gắn kết và chia sẻ lợi ích kinh tế là nền tảng giúp ngành hàng vận hành theo cơ chế thị trường; qua đó, ngành công nghiệp đó có thể được công nhận là ngành công nghiệp theo hướng thị trường ngay cả với các khách hàng không công nhận nền kinh tế thị trường Việt Nam, như Mỹ. Mặc dù vấn đề xây dựng mối quan hệ nông dân – doanh nghiệp đã được đặt ra từ lâu nhưng cho đến nay, ngành cá tra nói riêng, thủy sản Việt Nam nói chung, chưa đạt được những kết quả đáng kể. Đây sẽ là một trong những rào cản lớn nhất cho sự phát triển của toàn ngành.

Xem thông tin về báo cáo tại đây



Kim Dung/AGROINFO
Báo cáo phân tích thị trường
  • Phân bón
  • Thủy sản
  • Cao su
  • Sắn
  • Điều
  • Sữa
  • Gỗ
  • Thịt & thực phẩm
  • Hồ tiêu
  • Thức ăn CN
  • Lúa gạo
  • Thuốc trừ sâu
  • Mía đường
  • Thương mại
  • Cà phê
  • Nông thôn
  • Nông nghiệp
Đặt mua báo cáo
012.88.256.256




Chọn báo cáo
Huỷ