Nguồn: ahdb.org.uk
Niên vụ sữa 2025/26 đã đạt mức kỷ lục nhờ điều kiện kinh tế thuận lợi cho ngành sữa. Tuy nhiên, sản lượng hiện đã bắt đầu giảm. Ngay từ đầu niên vụ 2026/27, lượng sữa giao cho các nhà máy chế biến đã thấp hơn cùng kỳ năm trước. Tính từ tháng 4 đến ngày 13/6, lượng sữa giao giảm 0,9% so với cùng kỳ niên vụ trước.
Các yếu tố chính khiến sản lượng sữa giảm gồm quy mô đàn bò sữa tiếp tục thu hẹp, các chương trình kiểm soát sản lượng, số lượng nhà sản xuất sữa giảm, chi phí đầu vào tăng và tỷ lệ giá sữa so với giá thức ăn chăn nuôi suy giảm.
Hình: Sản lượng sữa của Vương quốc Anh trong hai năm gần đây và dự báo cho niên vụ sữa 2026/27, đồng thời so sánh với mức sản lượng trung bình 5 năm.
Đơn vị tính: Triệu lít

Chú thích: Sản lượng sữa niên vụ 2025/26: đường màu xanh nhạt; Sản lượng sữa niên vụ 2026/27: đường màu xanh đậm; Sản lượng sữa niên vụ 2027/28: đường màu xanh lá; Sản lượng sữa trung bình 5 năm: đường màu đỏ đậm. Đồ thị minh họa: ahdb.org.uk
Nông dân chăn nuôi bò sữa có thể đối mặt với áp lực dòng tiền trong mùa đông tới, trong bối cảnh giá sữa thấp hơn và chi phí đầu vào tăng. Ngoài ra, nhiều hộ có thể phải chịu khoản thuế lớn sau một năm trước đó nhận được mức thanh toán sữa cao. Dù xung đột có thể tiến tới ngừng bắn, mức độ bền vững của thỏa thuận vẫn chưa chắc chắn và tác động lên chi phí đầu vào dự kiến còn kéo dài trong năm.
Quy mô đàn bò
Số lượng bò sữa tiếp tục xu hướng giảm. Tính đến tháng 4/2026, đàn bò sữa của Anh đạt 1,59 triệu con, giảm 2% so với cùng kỳ năm trước và là mức thấp kỷ lục mới. Tổng đàn bò của Anh đạt 2,46 triệu con, cũng giảm 2% so với cùng kỳ. Số lượng bò giảm ở hầu hết các nhóm tuổi, ngoại trừ nhóm 4–6 năm tuổi. Đàn bò trẻ tiếp tục giảm, đây là vấn đề cần theo dõi đối với toàn ngành.
Số lượng nhà sản xuất
Theo khảo sát mới nhất đối với các đơn vị thu mua sữa lớn, tính đến tháng 4/2026, Anh ước có khoảng 6.850 nhà sản xuất sữa. Con số này giảm 160 nhà sản xuất, tương đương 2,3%, so với khảo sát gần nhất vào tháng 10/2025. So với tháng 4/2025, số nhà sản xuất giảm khoảng 190, tương đương 2,7%, cho thấy phần lớn trường hợp rời ngành diễn ra trong mùa đông vừa qua.
Giá bò loại thải vẫn ở mức thuận lợi, cao hơn trung bình 5 năm dù gần đây chịu áp lực giảm, trong khi chi phí đầu vào tiếp tục tăng. Những yếu tố này khiến một số nhà sản xuất quyết định rời ngành khi biên lợi nhuận bị thu hẹp.
Tâm lý của nông dân nhìn chung khá tiêu cực do chịu sức ép đồng thời từ giá sữa và chi phí sản xuất. Việc giá bò thịt giảm cũng làm gia tăng áp lực đối với các trang trại sữa. Tuy nhiên, tác động của yếu tố này đến sản lượng sữa không quá lớn, do phần lớn bò có thể được các trang trại khác mua lại.
Giá sữa
Theo các thông báo giá sữa mới nhất cho tháng 6 và tháng 7, giá nhìn chung ổn định hoặc nhích lên, nhưng vẫn thấp hơn chi phí sản xuất đối với nhiều hộ. Các đợt công bố giá tới đây sẽ phụ thuộc vào khả năng nhu cầu hấp thụ lượng hàng tồn kho lớn trên thị trường bán buôn, cả trong nước và toàn cầu. Hiện triển vọng đối với nhóm chất béo sữa còn yếu, trong khi nhu cầu đối với nhóm protein mạnh hơn và thị trường phô mai cân bằng hơn.
Chỉ số giá nông nghiệp
Dữ liệu chỉ số giá nông nghiệp tháng 3 cho thấy chi phí đầu vào nông nghiệp tăng 3,7% so với cùng kỳ năm trước và tăng 1,1% so với tháng trước. Nguyên nhân chủ yếu đến từ phân bón, chất cải tạo đất, nhiên liệu và dầu bôi trơn. Phần lớn mức tăng này có liên quan đến xung đột tại Trung Đông. Chi phí đầu vào tăng sẽ tiếp tục siết chặt biên lợi nhuận của nông dân, qua đó khuyến khích giảm sản lượng sữa.
Dự báo

Từ đầu niên vụ 2026/27 đến nay, sản lượng sữa đang thấp hơn mức của năm trước. Tuy vậy, thị trường vẫn còn nhiều sữa do đang so sánh với một niên vụ trước đạt kỷ lục. Việc giảm giá sữa từ mùa thu năm ngoái đã góp phần khiến sản lượng giảm và khiến một số nông dân rời khỏi ngành. Đàn bò sữa tiếp tục thu hẹp và trong điều kiện thị trường còn nhiều bất định hiện nay, nông dân chưa có động lực để tái đàn.
Diễn biến này trái ngược với niên vụ trước, khi năng suất tăng mạnh và việc sử dụng thức ăn chăn nuôi ở mức cao dù số lượng bò giảm. Hạn hán cũng khiến nông dân sử dụng nhiều thức ăn tinh hơn. Tuy nhiên, trong niên vụ hiện tại, sản lượng thức ăn tinh trong tháng 4 đã giảm 5% so với cùng kỳ năm trước và hiện thấp hơn mức trung bình 5 năm. Tỷ lệ giá sữa so với giá thức ăn chăn nuôi đang giảm, cho thấy nguồn cung sữa có thể tiếp tục thấp hơn trong các tháng tới.
Thị trường hàng hóa sữa, đặc biệt là nhóm chất béo, vẫn chịu áp lực. Giá bơ đã mất hơn 50% giá trị và hiện ở mức thấp nhất kể từ tháng 8/2021. Trong khi đó, nhóm protein tiếp tục phục hồi nhờ tồn kho hạn chế và nhu cầu tốt trên thị trường toàn cầu. Giá có thể phục hồi trong ngắn hạn, nhưng bức tranh chung vẫn nghiêng về xu hướng giảm do nguồn cung toàn cầu dư thừa.
Thời tiết và dịch bệnh trên vật nuôi sẽ tiếp tục ảnh hưởng đến năng suất. Nông dân kỳ vọng mùa sinh trưởng năm nay thuận lợi hơn sau hạn hán năm ngoái để bổ sung lại nguồn thức ăn thô xanh đã cạn kiệt. Bệnh lưỡi xanh vẫn là rủi ro đáng chú ý. Số ca bệnh đang hoạt động tại Anh tính đến tháng 6 cao hơn so với năm trước và có thể tiếp tục tăng khi hoạt động của muỗi vằn gia tăng trong những ngày nắng ấm.
Giá bò loại thải vẫn thuận lợi, cao hơn đáng kể so với trung bình 5 năm dù gần đây chịu áp lực, có thể khuyến khích các nhà sản xuất tinh giản đàn. Tuy nhiên, tình trạng thiếu bò cái hậu bị thay thế có thể làm chậm xu hướng này. Giá bò thịt trong tuần kết thúc ngày 6/6 ở mức 484 xu bảng Anh/kg, thấp hơn so với năm trước nhưng vẫn cao hơn 27% so với trung bình 5 năm. Biên lợi nhuận thu hẹp và chi phí đầu vào tăng đã khiến số bò sữa bị loại thải tăng trong những tháng đầu năm, nhưng tốc độ này đã chậm lại trong tháng 4.
Dự báo được xây dựng trên giả định điều kiện thời tiết và thị trường ở mức bình thường. Xung đột tại Trung Đông vẫn có nguy cơ kéo dài dù đã có các thỏa thuận ngừng bắn. Dù thế nào, tác động lan tỏa của xung đột có thể tiếp tục được cảm nhận trong phần còn lại của năm, với chi phí đầu vào duy trì ở mức cao. Bất kỳ áp lực nào lên giá sữa và giá hàng hóa sữa, cùng với chi phí đầu vào tăng thêm hoặc thời tiết bất lợi, đều có thể khiến sản lượng sữa giảm nhanh hơn.
Các hộ chăn nuôi bò sữa cần tìm cách tăng khả năng chống chịu trong khả năng có thể, cho đến khi điều kiện thị trường cải thiện.
Bảng: Dự báo sản lượng sữa của Anh - tháng 6/2026 (triệu lít)
|
|
2025/26 |
2026/27 |
2026/27 |
2025/26 |
2027/28 |
2026/27 |
|
Thực tế |
Thực tế |
Dự báo |
So với năm trước |
Dự báo |
So với năm trước |
|
Tháng 4 |
1.137 |
1.136 |
|
-0,1% |
1.125 |
-1,0% |
|
Tháng 5 |
1.182 |
1.167 |
|
-1,3% |
1.150 |
-1,5% |
|
Tháng 6 |
1.100 |
|
1.080 |
-1,8% |
1.075 |
-0,5% |
|
Tháng 7 |
1.066 |
|
1.050 |
-1,5% |
|
|
|
Tháng 8 |
1.038 |
|
1.030 |
-0,8% |
|
|
|
Tháng 9 |
1.024 |
|
1.020 |
-0,4% |
|
|
|
Tháng 10 |
1.099 |
|
1.095 |
-0,4% |
|
|
|
Tháng 11 |
1.071 |
|
1.065 |
-0,6% |
|
|
|
Tháng 12 |
1.104 |
|
1.095 |
-0,8% |
|
|
|
Tháng 1 |
1.082 |
|
1.075 |
-0,7% |
|
|
|
Tháng 2 |
986 |
|
975 |
-1,1% |
|
|
|
Tháng 3 |
1.133 |
|
1.120 |
-1,2% |
|
|
|
Năm |
13.023 |
|
12.908 |
-0,9% |
3.350 |
-1,0% |
Nguồn: AHDB
Ghi chú: Đối với tháng 2 của năm nhuận, sử dụng số ngày quy đổi tương đương 28 ngày.